Vũ trung tùy bút/Chương IX
Nước Việt Nam ta, lối chữ viết từ đời Đinh, Lê trở về trước thì không trông thấy được nữa, còn lối chữ từ đời Lý đời Trần trở về sau, thì bắt chước đời nhà Tống, ở trong sách An Nam kí lược đã nói rõ. Nay còn thấy ở tấm bia núi Dũng Thúy và bài minh khắc vào chuông chùa Thiên Phúc, núi Phật Tích, cùng là bài bia ở dinh cơ quan Tam sương là Châu Công[1] ở làng Châu Khê, huyện Đường An, bút pháp rất cổ kính. Còn như cái biển ba chữ "Đông Hoa môn"[2] thì chính là ngự bút của vua nhà Lý, bút pháp hùng hồn, tự nhiên, khác hẳn người tầm thường, những nét phẩy, mác, sổ, móc đã phôi thai ra một lối chữ nước Nam ta. Còn ba chữ "Đại Hưng môn"[3] thì là chữ hoành biển, chế ra từ đời Lê Hồng Đức, nét bút lẫn cả lối chân lối khải ; chữ cổ đến đời ấy đã có một bước biến cải. Khoảng năm Diên Thành đời Mạc[4], con gái Đà Quốc Công[5] là Mạc thị, có dựng ra chùa Bối Am[6], mài đá khắc một bài minh, nét chữ đầu cong chân quẹo, hơi giống chữ viết bây giờ, nhưng bên tả vênh lên, bên hữu vẹo xuống, có hơi khác, thực là quái lạ ! Dễ thường về đời Lê sơ và đời nhà Mạc, lối chữ viết đại lược như thế cả. Gần đây, lối chữ ở trong Thuận, Quảng cũng gần giống như vậy ; cũng là còn là giữ lối chữ cũ như xưa. Từ đời Lê Trung Hưng trở về sau, những người đi học theo nghề khoa cử viết theo lối chữ khải đời cổ, lại ngoa ngoắt thêm bớt, làm sai đi đến nửa phần, gọi là lối chữ nho. Còn những giấy tờ ở chốn cửa công thì dùng riêng một lối chữ "nam", lúc đầu là phòng dân gian làm giả mạo, mới theo hoa văn đặt ra một lối chữ việc quan. Ai học theo lối chữ ấy, thì sáu năm một lần, thi trúng tuyển được song vào làm chân thư lại ở trong các nha môn. Song những cách giả dối là bởi những kẻ nho lại làm ra, càng ngày càng tệ, các quan trên không thể cấm được. Bốn lối chữ chân, thảo, triện, lệ, lâu nay không ai truyền dạy. Cũng có người tập các lối chữ ấy, nhưng chỉ là tự ý học phỏng chừng, dối trá, quệch quác, trông chẳng khác gì anh thợ vẽ bôi bác vụng về, không ai buồn nhìn. Trong khoảng năm Cảnh Hưng, chúa Trịnh Thịnh Vương (Trịnh Sâm) lại thích lối chữ Trung Hoa, kẻ học giả đua theo, mới hơi thay đổi lối chữ Nam để cầu cho người ưa thích. Không cứ là thể chữ nào, chỉ viết cho thẳng, cho thô, cho vuông, cho cứng, để cầu hợp mắt người bấy giờ ; có khi viết một chữ mà nét chấm là lối chữ triện, móc là lối chữ lệ, phẩy mác là lối chữ chân, nếu gặp phải chữ rậm nét, thì lại đá thảo để viết cho thông hoạt, gọi là lối chữ viết câu đối. Lối chữ thảo thì bắt chước vũ kiếm[7] mà quằn quèo, thô tháp, không có vẻ thanh tao, gọi là lối chữ đề thơ. Lại còn lối chữ viết chân phương, chân hành, lão thảo, nộn thảo, đại triện, tiểu triện, cổ lệ, cổ lựu, tiểu kỉ, tiểu khải, đều tùy ý mô phỏng mà viết, để khoe khoang nổi tiếng ở đời. Kẻ hậu tiến đều coi đó là sư pháp, thường bảo nhau rằng đây là lối chữ chính tôn phái Dao Tiên sinh[8], ngông nghênh tự đắc, trên không coi đời cổ vào đâu, giá có hỏi đến tự thể của các nhà cổ kim, thì tuyệt nhiên không biết một tí gì.
Ôi ! Kẻ nho lại đi học chữ để chiều đời kiếm ăn, không trách làm gì ; ta chỉ thương cho những kẻ sĩ phu đời nay không ai còn lưu ý đến các lối chữ. Đời xưa, trong nhà học hiệu có dạy cả sáu nghề : lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số, khi nhỏ học tập, khi lớn lại nghiên cứu đem ra để dùng. Từ đời Tần đời Hán trở xuống, lấy chữ tốt nổi tiếng ở đời thì đời nào cũng có. Như Thái Ung, Chung Do đời nhà Hán, Vệ phu nhân và cha con Vương Hy Chi đời nhà Tấn[9], lề thói di truyền, kẻ trước người sau, nổi tiếng chữ tốt cũng nhiều. Vua Đường Văn Hoàng[10] là bậc thiên tử có muôn cỗ xe mà còn ưa lối chữ phi bạch. Vua Lương Vũ Đế và Vương Dật Thiếu[11] cũng nổi tiếng chữ tốt. Các vị công khanh có tiếng đời nhà Đường như Ngụy Trưng, Trữ Lượng, Ngu Thế Nam, Chử Toại Lương cho đến các họ Nhan, Liễu, Hàn, Bạch[12], đều là danh gia có tiếng chữ tốt cả. Đời nhà Tống hơn 300 năm, các bậc trên nho cũng nhiều, như là thầy Chu, thầy Trình, họ Trương, họ Chu, họ Ngụy cùng với họ Tô, họ Hoàng, họ Tống[13] , đến nay vẫn hãy còn truyền bút tích lại, xem ra cực tốt, chưa khi nào vì tốt chữ mà làm che mất huân danh đức nghiệp bao giờ. Nước ta đã có tiếng là văn hiến không khác gì nước Trung Hoa, thế mà về môt việc học viết chữ, lại cho là việc của kẻ thơ lại, không ai thèm lưu ý đến, không biết tại sao ?
Ta có một người bạn là Hoàng Hy Đỗ, nguyên người Quảng Đông, phố Tân Hợi, từ đời cha mới sang ngụ ở Hoa Dương, trấn Sơn Nam, rồi thành người Việt Nam. Ông thông minh, đĩnh ngộ, các sách tiểu thuyết, dã sử, đều xem qua hết. Ông lại thích về nghề thơ, từ, ngâm, vịnh, phàm thơ của các danh gia từ đời Hán, Ngụy, Đường, Tống, Minh, ông đều xem qua và đọc thuộc cả. Ông thường có câu thơ vịnh ngọc lan "Sắc đẹp lượt là từng mộng thấy / Hương thơm bát ngát đáng xưng vương", lại có câu "Trân trọng chờ hiềm tri kỉ ít / Tao đàn từng đã dự bình chương", hay có câu tả lúc ở đất khách nghe chim nhạn "Nếu bay qua tới hương quan đó / Nhắn bảo thu về cúc nở hoa", xem những câu thơ ấy tự biết khác người vậy. Ông lúc nhỏ viết chữ lối hành thảo rất tốt, bắt chước được lối chữ của Mễ Nam Cung, Đổng Kỳ Xương[14], hễ cầm bút lên thì rụt rè như không thể viết được, nhưng lúc đã đặt bút xuống giấy thì nét chữ tươi tắn, có cái ý nhị của hoa đào đọng giọt mưa, lá dương phủ làn khói. Các anh em bạn tri giao thường khi yến họp với nhau mà không biết mệt, giá có hỏi đến lối chữ thời bấy giờ thì ông nín lặng, không thèm nói. Nhà ta có giữ được hai cái thiệp chữ thạch ấn là thiếp Lan Đình và thiếp Đa Bảo[15], nhân đem ra tặng ông, ông mừng nói rằng "Đây là danh bút của hai đấng tiên hiền họ Vương, họ Nhan, song tiếc cho phường bản họ in ra cũng có hơi sai, không được đúng lắm". Mỗi khi đem ra trước cửa sổ để coi và bắt chước viết thử chơi, ông lấy làm thận trọng lắm.