Chương 3
Lulian McMahon, người của Quỹ Tín Thác, đang đợi tôi ở quầy tiếp tân. Anh ta có thân hình lực lưỡng và mái tóc xoăn màu đỏ. Julian đặc biệt thích những cụm từ như “bí mật nhé”, “cuối cùng thì” hay “điểm mấu chốt là” - những cụm từ thường xuyên xuất hiện trong cùng một câu nói của anh ta. Julian được coi là nhân vật hiền lành nhất Quỹ Tín Thác - hoa hậu thân thiện của tổ chức này. Anh ta muốn nói chuyện với tôi trước khi tôi về nhà.
“Tôi vừa gặp Giáo sư Diomedes…” Anh ta nói. “Tôi nghĩ anh nên biết chuyện ông ấy đã từ chức.”
“Ồ… Vậy sao…”
“Ông ấy nghỉ hưu sớm. Chuyện này bí mật nhé, ông ấy chỉ có nước nghỉ hưu, hoặc là đối mặt với một cuộc điều tra về vụ lùm xùm này…” Anh ta nhún vai “Tôi thấy tiếc thay cho ông ấy. Đây không phải một cái kết vinh quang cho sự nghiệp lâu dài và đáng nhớ của ông ấy. Nhưng ít nhất, Diomedes có thể tránh được báo giới và những vụ ồn ào. Và tình cờ, ông ấy có nhắc đến anh.”
“Vậy sao?”
“Phải. Ông ấy đề nghị chúng tôi để anh đảm nhận cương vị của ông ấy…” Julian nháy mắt. “Diomedes nói anh là người hoàn hảo cho vị trí đó.”
Tôi mỉm cười. “Ông ấy thật là tử tế.”
“Nhưng thật không may, cuối cùng thì sau vụ việc với Alicia và vụ bắt giữ Christian, ta chẳng còn lý do gì để The Grove tiếp tục hoạt động nữa. Chúng tôi sẽ phải đóng cửa nó vĩnh viễn.”
“Tôi cũng không lấy làm ngạc nhiên lắm. Như vậy cũng có nghĩa là tôi sẽ không làm việc ở đây nữa?”
“Chà, điểm mấu chốt là… trong vài tháng nữa, chúng tôi có kế hoạch mở một dịch vụ trị liệu tâm lý ở đây, có khả năng sinh lời hơn. Và chúng tôi muốn mời anh điều hành nó, Theo.”
Thật khó mà che giấu nổi nỗi phấn khích trong tôi khi nghe tin ấy. Tôi lập tức nhận lời.
“Bí mật nhé…” Tôi mượn chính cụm từ của anh ta. “Đây là cơ hội mà tôi đã mong chờ từ lâu.” Và đây cũng là cơ hội để tôi giúp đỡ được nhiều người hơn bằng phương pháp của riêng tôi, thay vì chỉ kê thuốc cho họ. Đó là cách mà Ruth đã giúp tôi, và cách mà tôi đã dùng để giúp Alicia.
Mọi chuyện đã diễn ra rất thuận lợi cho tôi. Tôi sẽ là một kẻ vô ơn nếu không thừa nhận điều ấy.
Có vẻ như tôi đã có mọi thứ tôi muốn. Gần như mọi thứ.
Năm ngoái, tôi và Kathy đã rời khỏi khu trung tâm London để chuyển về Surrey - nơi tôi đã lớn lên. Sau khi cha tôi mất, ông để lại cho tôi ngôi nhà. Mặc dù nó vẫn thuộc về mẹ tôi cho tới khi bà mất, nhưng bà quyết định trao nó cho chúng tôi, còn bà thì vào viện dưỡng lão.
Kathy và tôi nghĩ rằng việc có thêm không gian và một khu vườn sẽ đáng để đánh đổi lại quãng đường khá xa giữa Surrey và London. Tôi nghĩ điều này có lợi cho cả hai chúng tôi. Chúng tôi đã hứa sẽ sửa sang lại ngôi nhà, trang trí và sắp xếp lại nó. Nhưng đã gần một năm kể từ khi chúng tôi chuyển về đây, nơi này vẫn còn dang dở. Những bức tranh và gương mà chúng tôi mua ở chợ Portobello vẫn chỉ dựng bên bức tường chưa sơn lại. Nó vẫn chẳng khác gì nhiều so với ngôi nhà nơi tôi đã lớn lên. Tôi cũng không quan tâm nhiều đến việc thay đổi căn nhà. Trớ trêu thay, tôi cảm thấy khá thoải mái khi ở đây.
Tôi về đến nhà và bước vào trong, cởi bỏ áo khoác vì người tôi nóng nực như ở trong nhà kính. Tôi tắt máy sưởi ở hành lang. Kathy luôn thích căn nhà ấm sực, còn tôi chỉ thích lạnh. Vì thế, chúng tôi thường cãi nhau về chiếc máy sưởi này. Tôi có thể nghe thấy tiếng người nói trong ti vi cả khi đang đứng ngoài hành lang. Những ngày này, Kathy xem ti vi rất nhiều. Những thứ âm thanh rác rưởi tràn ngập căn nhà, khiến cuộc sống của chúng tôi trở nên mệt mỏi.
Kathy đang ở trong phòng khách, cuộn tròn trên ghế sofa. Trên đùi cô ấy là một túi snack tôm chua cay khổng lồ, cô ấy thọc những ngón tay đỏ lòm gia vị vào trong túi, bốc bánh ra và thả vào miệng. Cô ấy luôn ăn uống thiếu khoa học như thế, nên chẳng có gì ngạc nhiên khi gần đây Kathy bắt đầu tăng cân. Trong vài năm vừa qua, cô ấy không còn đi làm thường xuyên nên đã dần thu mình lại, thậm chí là bị trầm cảm. Bác sĩ muốn kê thuốc chống trầm cảm cho cô ấy, nhưng tôi đã phản đối. Tôi gợi ý cô ấy đến gặp một nhà trị liệu tâm lý và giãi bày những cảm xúc của mình. Tôi thậm chí còn đề nghị tìm giúp cô ấy một nhà trị liệu, nhưng Kathy dường như không muốn nói chuyện với ai cả.
Đôi khi, tôi bắt gặp cô ấy nhìn tôi bằng ánh mắt kỳ lạ, và tôi tự hỏi cô ấy đang nghĩ gì. Có phải cô ấy đang cố gắng thu hết can đảm để nói với tôi về Gabriel và vụ ngoại tình hay không? Nhưng cô ấy chỉ im lặng, không nói một lời. Cô ấy ngồi lặng lẽ giống như Alicia. Tôi ước gì mình có thể giúp cô ấy, nhưng tôi thậm chí còn chẳng thể chạm được đến tâm hồn cô ấy. Thật là trớ trêu: tôi làm tất cả những điều này để giữ Kathy lại, nhưng cuối cùng, tôi vẫn để mất cô ấy.
Tôi ngồi xuống phần tay vịn ghế và ngắm Kathy một lúc.
“Một bệnh nhân của anh đã dùng thuốc quá liều.” Tôi nói. “Cô ấy hiện đang hôn mê…”
Kathy không có phản ứng gì.
“Có vẻ như một nhân viên ở viện đã cố ý làm như vậy… Một đồng nghiệp của anh.”
Vẫn không có phản ứng nào.
“Em có nghe anh nói không?”
Kathy chỉ nhún vai. “Em không biết phải nói gì cả.”
“Em nói vài lời cảm thông cũng được mà…”
“Với ai? Với anh sao?”
“Với cô ấy. Anh đã từng trị liệu riêng cho cô ấy. Tên cô ấy là Alicia Berenson.”
Tôi liếc nhìn Kathy khi nhắc tới tên Alicia. Nhưng Kathy chẳng hề có chút phản ứng nào dù là nhỏ nhất. Tôi tiếp tục nói. “Cô ấy rất nổi tiếng. Người ta đã nhắc nhiều về cô ấy vài năm trước. Cô ấy đã giết chồng, em nhớ không?”
“Không, em cũng không chắc nữa!” Kathy nhún vai và chuyển kênh. Và thế là chúng tôi lại tiếp tục trò chơi “Hãy giả bộ…”
Những ngày này, dường như tôi đã giả bộ rất nhiều - với phần lớn mọi người và với cả chính mình. Vậy nên, tôi phải viết ra những dòng này - một nỗ lực để vượt qua cái tôi quá lớn và tiếp cận sự thật về bản thân, nếu điều đó là có thể.
Tôi cần một chút rượu. Tôi vào bếp và rót cho mình một ly vodka. Rượu thiêu đốt cổ họng tôi. Tôi rót thêm một ly khác.
Tôi tự hỏi Ruth sẽ nói gì nếu tôi đến tìm bà, thú nhận với bà mọi chuyện, giống như tôi đã làm cách đây sáu năm. Nhưng tôi biết điều đó là không thể. Tôi, ở thời điểm này, đã là một sinh vật hoàn toàn khác, nhiều tội lỗi và ít thành thật hơn. Làm thế nào tôi có thể ngồi đối diện với người phụ nữ mảnh mai đó, nhìn thật lâu vào đôi mắt trong xanh như làn nước của bà - đôi mắt đã mang lại cho tôi cảm giác an toàn, vẻ đàng hoàng, lòng tốt và sự thật, và chỉ toàn nhận lại vẻ xấu xa, tàn nhẫn, hận thù và đồi bại của tôi. Tôi chẳng hề xứng đáng với Ruth và tất cả những gì bà đã cố gắng làm cho tôi trong suốt thời gian qua. Làm thế nào tôi có thể nói với bà rằng tôi đã hủy hoại ba cuộc đời? Rằng tôi không tuân theo bất kỳ quy tắc đạo đức nào; rằng tôi đã làm những việc tồi tệ nhất mà không hề hối hận; và thứ duy nhất tôi quan tâm là chính bản thân mình?
Và có lẽ, tệ hơn cả nỗi sửng sốt hay ghê tởm, thậm chí là sợ hãi trong con mắt của Ruth khi nghe tôi kể những chuyện này - chính là nỗi buồn, sự thất vọng và nỗi ân hận, bởi tôi đã không chỉ khiến bà thất vọng, mà còn khiến bà thấy ân hận vì đã không cứu nổi tôi, vì bà là người có nhiều khả năng cứu được tôi nhất - bà đã làm việc suốt nhiều năm để trị liệu cho một người mặc dù vẫn còn rất trẻ nhưng đã phải chịu những tổn thương tinh thần nặng nề, người ấy rất sẵn lòng thay đổi, để trở nên tốt hơn, để được chữa lành. Ấy vậy mà, dù đã trải qua qua hàng trăm giờ trị liệu, tâm sự, lắng nghe và phân tích, bà vẫn không thể cứu vớt được tâm hồn của người đó. Có lẽ tôi đã lầm. Có lẽ một số người trong chúng ta đơn giản sinh ra đã là ác quỷ. Và dù có nỗ lực đến đâu chăng nữa, họ vẫn chẳng thể đổi thay.
Chuông cửa reo vang, ngắt quãng dòng suy nghĩ của tôi. Kể từ khi chuyển đến Surrey, chẳng mấy khi chúng tôi có khách đến nhà vào buổi tối. Tôi thậm chí còn chẳng thể nhớ được lần cuối cùng chúng tôi mời bạn đến nhà là khi nào.
“Em có hẹn với ai à?” Tôi hỏi nhưng không có tiếng trả lời. Có lẽ tiếng ti vi đã át tiếng nói của tôi.
Tôi ra mở cửa. Ngạc nhiên thay, đó là Chánh thanh tra Allen. Ông ta quấn khăn kín cổ và mặc chiếc áo khoác to sụ. Hai má ông ta đỏ ửng lên.
“Chào buổi tối, anh Faber!” Ông ta nói.
“Thanh tra Allen, ông đang làm gì ở đây vậy?”
“Tôi tình cờ đi ngang qua đây. Có vài chi tiết mới về vụ án mà tôi muốn nói với anh. Bây giờ có tiện cho anh không?”
Tôi ngần ngại. “Thật ra, tôi chuẩn bị nấu bữa tối, nên…”
“Sẽ không mất nhiều thời gian đâu.”
Allen mỉm cười. Rõ ràng là ông ta không muốn nghe câu từ chối. Tôi tránh sang một bên để ông ta bước vào nhà. Allen có vẻ hài lòng khi được vào bên trong. Ông ta cởi găng tay và áo khoác ra.
“Ngoài trời lạnh khủng khiếp! Tôi cá là sắp có tuyết đến nơi.”
Hơi nước bốc lên làm mờ mắt kính của ông ta. Ông ta tháo kính ra và dùng khăn tay lau nó.
“Trong này lại hơi nóng.” Tôi nói.
“Không đâu. Với tôi thì thế này là vừa đủ ấm.”
“Ông sẽ hợp với vợ tôi đấy.”
Tôi vừa dứt lời thì Kathy xuất hiện ở hành lang. Cô ấy hết nhìn tôi lại đến ngài thanh tra với vẻ hoài nghi.
“Có chuyện gì vậy?”
“Kathy, đây là Chánh thanh tra Allen. Ông ấy phụ trách điều tra về bệnh nhân mà anh đã kể với em.”
“Chào buổi tối, cô Faber.”
“Thanh tra Allen muốn nói chuyện với anh một lát, sẽ không mất nhiều thời gian đâu. Em có thể lên tầng và đi tắm. Anh sẽ gọi em xuống khi bữa tối đã sẵn sàng.”
Tôi gật đầu với thanh tra để mời ông ta vào bếp.
“Ông đi trước đi.” Tôi nói.
Thanh tra Allen liếc nhìn Kathy một lần nữa trước khi đi vào bếp. Tôi đi theo ông ta, Kathy còn nán lại ở hành lang một lúc trước khi tôi nghe tiếng bước chân của cô ấy từ từ đi lên tầng.
“Ông có muốn uống chút gì đó không?” Tôi hỏi.
“Cảm ơn anh. Cho tôi một tách trà là được rồi.”
Tôi thấy ông ta liếc nhìn chai vodka trên mặt bàn. Tôi mỉm cười.
“Ông có muốn chút gì đó mạnh hơn không?”
“Ồ không, cảm ơn anh! Một tách trà là đủ rồi.”
“Ông muốn uống đặc hay loãng?”
“Trà đặc và thêm một chút sữa cho có màu. Làm ơn đừng cho đường, tôi đang cố gắng ăn kiêng.”
Dù vẫn lắng nghe Allen nói, tâm trí tôi lại dạt đi nơi khác, tôi tự hỏi ông ta đang làm gì ở đây, và liệu tôi có nên lo lắng hay không. Ông ta có dáng vẻ thật thà, dễ khiến người ta cảm thấy an toàn. Thêm nữa, cũng đâu có điều gì đáng để tôi phải lo lắng.
Tôi bật ấm điện và quay lại nhìn ông thanh tra.
“Vậy… ông muốn nói về chuyện gì?”
“À, chủ yếu là về anh Martin.”
“Về Jean-Felix sao? Thật ư?” Điều này làm tôi thấy ngạc nhiên. “Anh ta thì làm sao?”
“À, anh ta có đến The Grove để lấy đồ vẽ của Alicia. Chúng tôi có nói chuyện với nhau vài câu. Anh Martin quả là một người thú vị. Anh ta đang định làm một đợt triển làm tất cả các tác phẩm của Alicia từ trước đến giờ. Anh ta cho rằng đây là thời điểm thích hợp để đánh giá lại Alicia với vai trò một nghệ sĩ. Khi mà báo chí liên tục đưa tin về cô ấy như thế này, tôi cá là anh ta đã đúng.”
Allen nhìn tôi vẻ dò xét. “Có thể anh sẽ muốn viết một cuốn sách về cô ấy đấy. Tôi chắc chắn họ sẽ hứng thú với một cuốn sách về Alicia.”
“Tôi chưa từng nghĩ đến chuyện này.” Tôi nói. “Chính xác thì kế hoạch triển lãm của Jean-Felix có liên quan gì tới tôi vậy, thưa ngài thanh tra?”
“Ồ… anh Martin đặc biệt thích thú với bức tranh mới của Alicia. Anh ta không quan tâm tới việc Elif đã phá hoại nó cho lắm. Anh ta cho rằng như vậy bức tranh càng có thêm giá trị. Tôi không nhớ chính xác anh ta đã dùng từ gì. Tôi không rành về nghệ thuật cho lắm. Anh thì sao?”
“Tôi cũng vậy.” Tôi tự hỏi khi nào thì ông ta mới vào thẳng vấn đề, và vì sao tôi đang cảm thấy ngày một khó chịu hơn.
“Dù sao đi nữa…” Allen tiếp tục. “Trong lúc chiêm ngưỡng bức tranh, anh Martin đã lại gần nó để nhìn cho rõ hơn và đã tìm ra một thứ.”
“Thứ gì vậy?”
“Thứ này.”
Ông ta rút ra thứ gì đó từ trong túi áo khoác. Tôi lập tức nhận ra nó.
Đó là cuốn nhật ký.
Ấm nước bắt đầu sôi và rít lên. Tôi đi tắt bếp, đổ một ít nước sôi vào cốc trà. Trong lúc khuấy cốc trà, tôi thấy tay mình run lên.
“Ồ, tốt quá!” Tôi nói. “Tôi đã tìm nó mãi.”
“Nó được nhồi chặt vào phía sau bức tranh, góc phía trên bên trái của chiếc khung tranh.”
Vậy ra đó là nơi Alicia đã giấu cuốn nhật ký. Phía sau bức tranh mà tôi căm ghét, nơi tôi không bao giờ thèm ngó tới.
Ông thanh tra vuốt ve lớp bìa đen nhăn nheo bạc màu và mỉm cười. Ông ta mở cuốn sổ ra và lật qua vài trang. “Thú vị thật. Những mũi tên, sự lộn xộn.”
Tôi gật đầu. “Chân dung một tâm trí không còn tỉnh táo.”
Thanh tra Allen lật đến trang cuối và bắt đầu đọc to lên. “Anh ta sợ giọng nói của mình… Anh ta túm lấy cổ tay mình, và chọc mũi tiêm vào đó.”
Tôi bắt đầu hoảng loạn tột độ. Tôi đã không hề biết đến sự tồn tại của những câu từ đó. Tôi chưa từng đọc đoạn đó. Đây là thứ bằng chứng buộc tội mà tôi đang tìm kiếm, và nó đã rơi vào tay một người mà tôi không muốn chút nào. Tôi muốn cướp lấy cuốn nhật ký từ tay Allen và xé rách mấy trang ấy. Nhưng tôi không tài nào cử động được. Tôi bắt đầu lắp bắp.
“Tôi… tôi nghĩ… sẽ tốt hơn nếu…”
Giọng tôi run rẩy, và ông thanh tra nhận ra nỗi sợ hãi trong đó.
“Sao cơ?”
“Không có gì.”
Tôi không cố gắng ngăn cản ông ta nữa. Bất kỳ hành động nào lúc này cũng có thể được xem là bằng chứng chống lại tôi. Tôi không còn lối thoát nào nữa. Nhưng điều kỳ lạ nhất là… tôi bỗng cảm thấy thật nhẹ nhõm.
“Ông biết đấy, tôi không nghĩ rằng ông tình cờ đi ngang qua khu này đâu.” Tôi nói và đưa cốc trà cho Allen.
“Ồ vâng, anh nói đúng. Tôi nghĩ không nên thông báo mục đích của chuyến viếng thăm này ngay từ ngoài cửa. Nhưng sự thật là, thứ này khiến tôi có một cái nhìn khác về sự việc.”
“Tôi rất tò mò và muốn nghe tiếp. Ông có thể đọc to lên được không?”
“Được thôi.”
Tôi thấy bình tĩnh lạ lùng khi ngồi trên chiếc ghế cạnh cửa sổ. Ông thanh tra hắng giọng và bắt đầu đọc.
“Theo vừa ra khỏi phòng. Mình chỉ còn lại một mình và đang cố gắng viết nhanh nhất có thể…”
Trong lúc nghe ông ta đọc, tôi nhìn lên những đám mây trắng đang lửng lờ trôi. Cuối cùng, trời cũng bắt đầu có tuyết. Tôi mở cửa sổ và đưa tay ra ngoài. Tôi với tay bắt lấy một bông tuyết, nhìn nó tan dần trên đầu ngón tay.
Tôi mỉm cười và bắt lấy một bông tuyết khác.
HẾT