HIỆN TẠI
Không xác định
01.
Khi cánh cửa nhà tù đóng sầm lại sau lưng, tôi bỗng cảm thấy hoài nghi mọi quyết định trong đời mình. Đây không phải là nơi tôi muốn ở lúc này. Không hề. Ai mà muốn ở trong một nhà tù được canh phòng ở mức tối đa chứ? Tôi cá là không ai muốn điều đó cả. Nếu bạn ở đây, có lẽ bạn đã có vài lựa chọn sai lầm trong đời.
Tôi thì chắc chắn có rồi.
“Tên?”
Một người phụ nữ mặc đồng phục quản giáo màu xanh đang ngước nhìn tôi từ vách kính ngăn ngay bên trong lối vào nhà tù. Đôi mắt đờ đẫn và vô hồn, trông cô ta có vẻ còn không muốn ở đây hơn cả tôi.
“Brooke Sullivan.” Tôi hắng giọng. “Tôi gặp… Dorothy Kuntz?”
Người phụ nữ nhìn xuống tập giấy tờ trước mặt, lướt một lượt danh sách, không tỏ dấu hiệu gì cho thấy cô ta đã nghe thấy tôi hay biết tại sao tôi ở đây. Tôi liếc vào phòng chờ nhỏ hẹp, vắng tanh, trừ một ông cụ già khọm đang ngồi trên ghế nhựa, đọc báo tựa như đang ngồi trên xe buýt. Như thể xung quanh không có hàng rào thép gai và những tháp canh cao vời vợi.
Sau khoảng vài phút, một tiếng rè vang vọng khắp phòng. Âm thanh lớn khiến tôi giật nảy người và lùi lại một bước. Cánh cửa ở bên phải tôi với những chấn song màu đỏ từ từ trượt mở, để lộ một hành lang dài, được chiếu sáng lờ mờ.
Tôi nhìn chằm chằm vào hành lang, chân tôi đông cứng trên sàn. “Tôi… tôi có nên vào không?”
Người phụ nữ nhìn tôi với đôi mắt đờ đẫn. “Phải, vào đi. Chị đi qua cửa kiểm tra an ninh ở cuối hành lang.”
Cô ta hất cằm về phía hành lang tối tăm, tôi cảm thấy ớn lạnh dọc sống lưng và ngập ngừng bước qua cánh cửa có chấn song. Nó trượt về vị trí cũ và khóa lại với một tiếng rầm vang dội. Tôi chưa từng đến đây bao giờ. Cuộc phỏng vấn xin việc của tôi diễn ra qua điện thoại và người phỏng vấn đã rất tha thiết. Anh ta thậm chí còn không cảm thấy cần phải gặp tôi trước sơ yếu lý lịch và thư giới thiệu của tôi đã đủ. Vậy nên tôi ký hợp đồng một năm và gửi nó đi vào tuần trước.
Và bây giờ tôi ở đây. Cho năm tiếp theo của cuộc đời mình.
Đây là một sai lầm. Lẽ ra tôi không nên đến đây.
Tôi ngoái lại phía sau, nhìn những chấn song màu đỏ đã đóng sầm lại sau lưng. Vẫn chưa quá muộn. Mặc dù tôi đã ký hợp đồng nhưng tôi chắc chắn rằng mình có thể thoát khỏi nó. Tôi vẫn có thể quay xe và rời khỏi nơi này. Không giống như những tù nhân trong này, tôi đâu bị buộc phải ở đây.
Tôi không muốn công việc này. Tôi muốn bất kỳ việc gì, trừ việc này. Nhưng tôi đã nộp đơn cho mọi công việc trong bán kính sáu mươi phút lái xe từ thị trấn Raker ngoại ô New York này, và nhà tù này là nơi duy nhất gọi lại để phỏng vấn tôi. Đó là sự lựa chọn cuối cùng của tôi và tôi cảm thấy may mắn khi có được nó.
Vì thế tôi tiếp tục bước đi.
Có một người đàn ông ở cửa an ninh ở cuối hành lang, canh gác chốt thứ hai. Anh ta trạc bốn mươi tuổi, cắt tóc ngắn kiểu quân đội và mặc đồng phục màu xanh lam giống người phụ nữ có đôi mắt đờ đẫn ở quầy lễ tân. Tôi nhìn tấm thẻ căn cước đeo trên ngực anh ta: Quản giáo Steven Benton.
“Chào anh!” Tôi nói, bằng một giọng mà tôi nhận ra là có chút vui vẻ quá mức, nhưng tôi không thể kiềm chế được. “Tên tôi là Brooke Sullivan, hôm nay là ngày đầu tiên tôi làm việc ở đây.”
Biểu cảm của Benton không hề thay đổi khi đôi mắt đen của anh ta nhìn lướt qua tôi. Tôi lúng túng khi nhớ lại mình đã chọn mặc đồ gì sáng nay. Làm việc trong nhà tù an ninh tối đa dành cho nam giới, tôi hiểu rằng tốt nhất là đừng ăn mặc theo kiểu khiến người ta nghĩ mình khêu gợi. Vì thế tôi đang mặc quần jean đen ống loe, kết hợp với áo sơ mi đen dài tay cổ đứng. Ngoài trời gần 27 độ C, một trong những ngày nóng nực cuối cùng của mùa hè, và tôi hối hận vì đã chọn màu đen, nhưng có lẽ đây là lựa chọn giúp tôi ít nổi bật nhất có thể. Mái tóc đen cũng được buộc lại theo kiểu đuôi ngựa đơn giản.
Đồ trang điểm duy nhất tôi dùng là một ít kem che khuyết điểm để che đi quầng thâm dưới mắt và một chút son có tông màu chả khác gì màu môi tôi.
“Lần sau,” anh ta nói, “không đi giày cao gót.”
“Ồ!” Tôi liếc xuống nhìn đôi giày cao gót màu đen của mình. Có ai nói với tôi quy định gì về trang phục đâu, huống hồ là quy định về giày. “Chà, chúng không cao lắm, và trông cũng mềm mại, không nhọn hay gì khác. Tôi thực sự không nghĩ…”
Lời phân bua của tôi tắt ngấm khi Benton nhìn tôi chằm chằm. Không đi giày cao gót. Hiểu rồi.
Benton kiểm tra ví của tôi qua máy dò kim loại, sau đó tôi đi qua một máy dò lớn hơn nhiều. Tôi vừa nói đùa là cảm giác như đang ở sân bay, vừa thấp thỏm trong lòng, nhưng tôi hiểu rằng anh chàng này không thích đùa lắm. Lần sau, không đi giày cao gót, không nói năng đùa cợt.
“Tôi gặp Dorothy Kuntz,” tôi nói với anh ta. “Cô ấy là y tá ở đây.”
Benton càu nhàu. “Cô cũng là y tá à?”
“Y tá chính,” tôi sửa lại. “Tôi sắp làm việc tại phòng khám ở đây.”
Anh nhướn mày nhìn tôi. “Chúc may mắn.”
Tôi không chắc điều đó có nghĩa chính xác là gì.
Benton nhấn một nút, và một lần nữa, âm thanh rè rè chói tai đó lại tắt ngay trước khi cánh cửa chặn thứ hai trượt mở. Anh ta dẫn tôi dọc hành lang đến phòng y tế của nhà tù. Hành lang này có mùi hóa chất rất lạ và ánh đèn huỳnh quang trên đầu cứ nhấp nháy. Càng đi tôi lại càng sợ rằng một tù nhân nào đó sẽ bất ngờ xuất hiện và đánh tôi đến chết bằng một trong những chiếc giày cao gót của tôi.
Khi rẽ trái ở cuối hành lang, tôi thấy một người phụ nữ đang đợi mình. Bà ấy trong khoảng hơn sáu mươi tuổi, với mái tóc muối tiêu cắt gọn gàng và thân hình rắn chắc. Dù cảm thấy có chút quen thuộc, tôi không dám chắc điều đó là gì. Không giống quản giáo và lễ tân, bà ấy mặc một chiếc quần màu xanh nước biển. Nhưng giống như mọi người khác tôi đã gặp từ lúc vào đây, bà ấy không cười. Tôi tự hỏi liệu như thế có phải là vi phạm nội quy làm việc không. Tôi nên kiểm tra hợp đồng của mình. Nhân viên có thể bị sa thải vì mỉm cười.
“Brooke Sullivan?” Giọng bà ấy trầm hơn tôi nghĩ.
“Vâng. Bà là Dorothy?”
Giống như người quản giáo đứng ở cửa an ninh, bà ấy nhìn tôi từ trên xuống dưới. Và rất giống anh ta, bà hoàn toàn thất vọng với những gì mình nhìn thấy. “Không đi giày cao gót,” bà ấy nói.
“Tôi biết. Tôi…”
“Nếu cô biết, tại sao cô vẫn đi?”
“Ý tôi là…” Mặt tôi nóng bừng. “Tôi vừa mới biết.”
Bà ấy miễn cưỡng chấp nhận câu trả lời này và quyết định không ép tôi phải trải qua buổi hướng dẫn công việc trên đôi chân trần. Bà vẫy tay và tôi ngoan ngoãn chạy theo. Toàn bộ phía ngoài của khu y tế có mùi hóa chất giống như phần còn lại của nhà tù và ánh sáng cũng chập chờn y vậy. Một dãy ghế nhựa xếp sát tường nhưng không có ai ngồi. Bà ấy vặn chốt, mở cửa một trong các phòng.
“Đây sẽ là phòng khám của cô,” bà ấy nói với tôi.
Tôi nhìn vào bên trong. Căn phòng chỉ rộng bằng một nửa phòng khám cấp cứu nơi tôi từng làm việc ở Queens. Nhưng trừ điều đó ra, chúng giống y nhau. Bàn khám đặt ở giữa phòng, một chiếc ghế cho tôi ngồi và một chiếc bàn nhỏ.
“Tôi sẽ có một văn phòng chứ?” Tôi hỏi.
Dorothy lắc đầu. “Có một cái bàn kìa. Cô không thấy nó sao?”
Vậy là tôi phải ghi bệnh án trước mặt bệnh nhân à? “Thế còn máy tính?”
“Bệnh án đều ghi trên giấy.”
Tôi nghe mà choáng. Tôi chưa bao giờ làm việc ở một nơi mà hồ sơ bệnh án bằng giấy. Tôi thậm chí còn không biết là giờ vẫn được phép như thế. Nhưng tôi cho rằng các quy tắc ở trong tù chắc hơi khác một chút.
Bà chỉ vào căn phòng cạnh phòng khám. “Đó là phòng lưu trữ hồ sơ. Khóa mở chính là thẻ tên của cô. Chúng tôi sẽ đưa cho cô một chiếc trước khi cô rời đi.”
Bà đưa thẻ tên của mình đến gần máy quét trên tường, một tiếng cạch lớn vang lên, bà đẩy mạnh cánh cửa để lộ một căn phòng nhỏ bụi bặm chứa đầy tủ hồ sơ. Hàng tấn hồ sơ.
Đây sẽ là một bi kịch.
“Ở đây có bác sĩ giám sát không?” Tôi hỏi.
Bà ấy do dự. “Tiến sĩ Wittenburg phải phụ trách hơn chục nhà tù. Cô sẽ không gặp ông ấy nhiều, nhưng ông ấy sẵn sàng nói chuyện qua điện thoại.”
Điều này làm tôi bất an. Ở phòng khám khẩn cấp, tôi không bao giờ đơn độc. Nhưng tôi nghĩ ở đây các ca bệnh sẽ không nghiêm trọng bằng. Ít nhất đó là điều tôi hy vọng.
Điểm dừng tiếp theo của chúng tôi trong chuyến tham quan là phòng dụng cụ thiết bị. Nó gần giống với căn phòng khám, nhưng tất nhiên là nhỏ hơn, cũng mở bằng thẻ tên. Có băng, đồ khâu, đủ loại thùng, ống và hóa chất khác nhau.
“Chỉ có tôi mới có thể phân phát thuốc,” Dorothy nói. “Cô kê đơn và tôi sẽ phát thuốc cho bệnh nhân. Nếu không có loại nào, chúng ta có thể đặt hàng.”
Tôi chà bàn tay đẫm mồ hôi vào chiếc quần đen. “Vâng, được.”
Dorothy nhìn tôi hồi lâu. “Tôi biết cô đang lo lắng khi làm việc trong một nhà tù có an ninh tối đa, nhưng cô phải biết rằng rất nhiều người trong số họ sẽ biết ơn sự chăm sóc của cô. Miễn là cô chuyên nghiệp, cô sẽ không gặp vấn đề gì.”
“Vâng.”
“Không chia sẻ bất kỳ thông tin cá nhân nào.” Môi bà ấy mím thành một đường thẳng. “Đừng nói cho họ biết cô sống ở đâu. Đừng kể cho họ nghe bất cứ điều gì về cuộc sống của cô. Đừng khoe bất kỳ bức ảnh nào. Cô có con không?”
“Tôi có một đứa con trai.”
Dorothy ngạc nhiên nhìn tôi. Chắc bà ấy nghĩ tôi sẽ nói không. Hầu hết mọi người đều ngạc nhiên khi tôi nói với họ rằng tôi có một đứa con. Tôi đã hai mươi tám tuổi nhưng trông tôi trẻ hơn rất nhiều. Mặc dù tôi cảm thấy mình già hơn thế. Tôi trông như đang học đại học nhưng cảm thấy như mình đã năm mươi. Ôi, câu chuyện về cuộc đời tôi.
“Chà,” Dorothy nói, “đừng nói về con của cô. Hãy chuyên nghiệp. Luôn luôn chuyên nghiệp. Tôi không biết cô làm công việc cũ như thế nào nhưng những người đàn ông này không phải là bạn của cô. Đây là những kẻ đã phạm tội cực kỳ nghiêm trọng và rất nhiều người trong số họ phải ở đây suốt đời.”
“Tôi biết.” Lũ đàn ông, tôi biết quá chứ.
“Và trên hết…” Đôi mắt xanh băng giá của Dorothy nhìn xoáy vào tôi. “Cô cần nhớ rằng dù hầu hết những người đàn ông này gặp cô với lý do chính đáng, vài người đến đây để lấy ma túy. Chúng ta có một lượng nhỏ ở kho thuốc, nhưng chúng chỉ được dự trữ cho những trường hợp hiếm hoi. Đừng để những người này lừa cô kê đơn để họ lấy dùng hoặc bán.”
“Tất nhiên rồi…”
“Ngoài ra,” bà nói thêm, “không bao giờ chấp nhận bất kỳ hình thức giao dịch nào để đổi lấy ma túy. Nếu có ai đưa ra lời đề nghị như vậy, cô hãy đến gặp tôi ngay.”
Tôi hít một hơi. “Tôi sẽ không bao giờ làm điều đó.”
Dorothy liếc tôi bằng ánh mắt sắc như dao. “Ừ, người ở vị trí này trước cô cũng nói hệt như vậy. Giờ cô ta đang ở một nơi cũng tương tự như thế này.”
Tôi không biết nói gì trong giây lát. Khi được phỏng vấn, tôi đã hỏi về người trước mình và người quản giáo nói cô ấy đã rời đi vì “lý do cá nhân.” Anh ta không nói gì đến việc cô ta bị bắt vì bán ma túy cho tù nhân.
Thực tế rằng người làm công việc này trước tôi giờ đã bị tống giam làm tôi tỉnh cả người. Tôi nghe nói rằng một khi đã ở trong hệ thống nhà tù thì rất khó thoát ra được. Có lẽ điều tương tự cũng đúng với những người làm việc ở đây.
Dorothy nhận thấy vẻ mặt của tôi và biểu cảm của bà ấy dịu đi một chút. “Đừng lo lắng,” bà nói. “Nó không đáng sợ như cô nghĩ đâu. Thực sự, nó cũng giống như bất kỳ công việc y tế nào khác. Cô gặp bệnh nhân, cô giúp họ khỏe hơn, sau đó cô đưa họ trở lại cuộc sống.”
“Vâng.” Tôi xoa xoa gáy. “Tôi chỉ đang thắc mắc… Liệu tôi có chịu trách nhiệm khám cho tất cả tù nhân không? Hay là tôi chỉ phụ trách một khu…?”
Dorothy bĩu môi. “Không, chính cô đấy, cô gái ạ. Cô sẽ khám cho tất cả tù nhân. Có vấn đề gì với điều đó à?”
“Không, không hề,” tôi nói.
Nhưng đó là một lời nói dối.
Lý do thực sự khiến tôi ngần ngại nhận công việc này không phải vì tôi sợ một tù nhân nào đó sẽ giết tôi bằng chiếc giày của mình. Tôi ngần ngại vì một trong những tù nhân trong nhà tù này. Một người mà tôi đã biết từ lâu và không muốn gặp lại.
Nhưng tôi không thể nói điều đó với Dorothy. Tôi không thể tiết lộ với bà ấy rằng người bạn trai đầu tiên của tôi giờ là tù nhân tại đây, thụ án chung thân mà không có khả năng được ân xá.
Và tôi là người đã đưa anh ta vào đây.