Phần hai
Bà Laurel đưa cho cô bé gội đầu một đồng hai bảng. Bà cười dịu dàng, “Cảm ơn Dora.”
Bà đưa tiếp cho người thợ làm tóc tờ năm bảng, khen ngợi, “Cảm ơn Tania nhé. Tóc đẹp lắm. Cảm ơn nhiều.”
Bà nhìn vào tấm gương dài treo trên tường một lần nữa trước khi rời tiệm. Tóc bà dài chấm vai, màu vàng sáng và hợp mốt. Thế nhưng mái tóc ấy trái ngược hoàn toàn với cõi lòng của bà. Bà sẵn sàng trả tám mươi bảng cho bất kỳ ai trên đường Stroud Green có thể đem đến cho bà một tinh thần sáng láng, đâu ra đó như một mái tóc sấy khô sành điệu. Dĩ nhiên tiền boa nhiều hơn năm bảng.
Ngoài trời đang là một buổi chiều mùa lộng gió. Tóc bà nhẹ như tơ, vấn vít quanh đầu. Lúc đó đã trễ và bà đói bụng nên quyết định ăn trước khi về nhà. Bà đẩy cửa bước vào quán cà phê cách tiệm làm tóc ba căn, gọi cho mình món bánh mì sandwich bơ nướng và một ly cappuccino đã lọc hết caffeine. Bà ăn nhanh nên phô-mai tràn ra khỏi bánh mì và bám quanh cằm bà. Bà đang dùng khăn ăn lau cằm thì một người đàn ông bước vào.
Người này có chiều cao vừa phải, khổ người vừa phải và khoảng năm mươi tuổi. Tóc ông ta cắt ngắn, hai bên thái dương màu xám trong khi đỉnh đầu sậm màu hơn. Ông ta mặc chiếc quần jean vừa vặn, áo sơ mi đẹp mắt, xỏ đôi giày ống buộc dây và đeo kính đồi môi - tương tự kiểu ăn mặc của Paul. Dù những suy nghĩ của bà về chồng cũ hết sức mâu thuẫn và rắc rối kinh khủng song bà phải thừa phận ông luôn ăn mặc có gu.
Bà Laurel rất ngạc nhiên khi nhận ra mình gần như ngưỡng mộ người đàn ông đứng ở cửa ra vào. Ở ông ta toát lên vẻ đường hoàng nhưng điềm tĩnh, còn đôi mắt ánh lên lấp lánh - chỉ là bà Laurel chưa chắc dám nói ra như vậy. Bà chăm chú quan sát khi người đàn ông xếp hàng, soi ra thêm nhiều chi tiết, như phần bụng phẳng nhưng mềm, đôi bàn tay vững chãi, một tai hơi nhô ra hơn bên còn lại. Tính ra, ông ta không đẹp trai theo chuẩn truyền thống nhưng lại có khí chất của người từ lâu đã chấp nhận giới hạn ngoại hình của mình và khéo léo chuyển sự chú ý sang cá tính bản thân.
Vị khách mới gọi một lát bánh cà rốt và cà phê đen. Khó đoán định ông ta là người ở đâu thông qua giọng nói, có thể là người Mỹ hoặc là một người nước ngoài học tiếng Anh từ người Mỹ. Bà Laurel nín thở khi ông ta chọn bàn ngay cạnh bà. Ông ta không tỏ vẻ để tâm đến cái nhìn chằm chằm của bà dù đã chọn cái bàn gần bà nhất giữa mênh mông bàn trống trong quán. Bà bỗng bấn loạn, cảm thấy như thể chính bà đã mời gọi sự chú ý của ông ta một cách vô thức, không chủ ý. Bà đâu có muốn ông ta để ý tới mình. Bà chẳng cần ai chú ý cả.
Trong một lúc, họ ngồi sát bên nhau như thế. Người khách không nhìn bà dẫu chỉ một lần nhưng bà cảm nhận được dụng ý gì đó từ phía ông ta. Trong lúc “hàng xóm” nghịch điện thoại, bà Laurel giải quyết nốt phần bánh sandwich phô-mai nhưng ăn miếng nhỏ và từ tốn hơn. Được một lúc nữa, bà bắt đầu nghi có lẽ là mình tưởng tượng ra mọi chuyện. Bà uống cà phê và chuẩn bị ra về.
Đúng lúc đó, ông ta cất lời, “Tóc bà đẹp lắm.”
Bà Laurel quay người sang, tỏ ra sốc với lời khen và chỉ kịp thốt lên: “Ồ.”
“Đẹp thật đấy.”
“Cảm ơn ông.” Bà bất giác vuốt tóc. “Tôi mới làm xong chứ bình thường không được như thế này.”
Ông ta mỉm cười. “Bà ăn bánh cà rốt bao giờ chưa?”
Bà Laurel lắc đầu.
“Ngon tuyệt đấy. Bà muốn nếm một chút chứ?”
“Ồ không, cảm ơn, tôi…” bà Laurel cười rụt rè.
“Xem nào, tôi có muỗng sạch ngay đây này. Bà nếm thử đi. Tôi không định ăn hết miếng bánh đâu,” ông ta vừa nói vừa đẩy chiếc muỗng về phía bà Laurel.
Một luồng sáng lóe lên dọc quán cà phê lúc đó, sáng như ánh đèn pin. Luồng sáng chạm vào chiếc muỗng, khiến nó trở nên óng ánh. Trên miếng bánh vẫn còn vết lõm do nĩa của ông khách lưu lại. Khoảnh khắc ấy thân mật lạ kỳ, theo phản xạ lẽ ra bà Laurel phải lùi lại và bước đi. Nhưng khi nhìn thấy những đốm lấp lánh trên chiếc muỗng bạc, lòng bà như bắt đầu mở ra. Có điều gì đó như là hy vọng.
Bà cầm muỗng lên, xắn lấy một miếng nhỏ ở góc bánh ông ta chưa đụng đến.
Tên ông ta là Floyd. Đầy đủ là Floyd Dunn. Ông ta chìa tay về phía bà, nhã nhặn nói: “Rất vui được gặp bà, bà Laurel Mack.” Cái bắt tay của ông ta vừa chặt vừa ấm.
“Giọng ông là ở vùng nào vậy?” Bà hỏi trong lúc kéo ghế của mình lại gần bàn ông ta hơn. Bà cảm thấy một vạt nắng đang sưởi ấm sau đầu mình.
“À,” Người đàn ông chấm chấm miệng bằng khăn ăn, giải thích: “Lẽ ra bà nên hỏi trong giọng của tôi còn thiếu vùng miền nào hay không. Bố mẹ tôi là người Mỹ, họ tham vọng tới nổi đuổi theo công việc và tiền bạc vòng quanh thế giới. Bốn năm ở Mỹ. Hai năm ở Canada. Thêm bốn năm nữa ở Mỹ. Tiếp đó là bốn năm ở Đức, rồi một năm ở Singapore trước khi trụ lại Anh ba năm. Giờ bố mẹ tôi về Mỹ rồi, còn tôi ở lại đây.”
“Vậy là ông sống ở đây cũng lâu rồi?”
“Tôi sống ở đây…” ông ta nheo mắt tính nhẩm, “… ba mươi bảy năm rồi. Tôi có hộ chiếu Anh. Con cái và vợ cũ của tôi là người Anh. Tôi nghe The Archers[8]. Tôi là người Anh hoàn toàn rồi.”
Nói xong, ông khách mỉm cười còn bà Laurel cười phá lên.
Bỗng bà khựng lại. Sao chuyện này có thể xảy ra, vào ngày hôm nay? Bà ngồi trong quán cà phê vào giữa buổi chiều, nói chuyện với một người đàn ông lạ mặt, thậm chí bật cười vì câu đùa của ông ta. Chuyện này xảy ra sau ngần ấy tháng ngày, sau hàng trăm ngày tối tăm kể từ khi Ellie ra đi? Đây có phải là dấu chấm hết cho sự đày ải, sau khi bạn chôn cất đứa con yêu quý?
“Bà sống gần đây à?” Ông ta hỏi.
“Không.” Bà Laurel trả lời. “Không, tôi ở Barnet. Nhưng trước kia tôi sống gần đây. Tôi mới dọn đi cách nay mấy năm thôi nên vẫn về đây làm tóc.” Bà ra dấu về phía tiệm làm tóc cách đó vài căn. “Tôi hoàn toàn không dám để cho ai khác chạm vào tóc của mình nên chịu khó quay lại đây mỗi tháng.”
Ông khách đưa mắt nhìn mái tóc người phụ nữ mới quen. “À, theo tôi thấy thì điều đó xứng đáng đấy.”
Giọng nói nghe lả lơi tới nỗi bà Laurel phải tự hỏi liệu ông ta có kì quặc hay không. Có không nhỉ? Ông ta có gì đó lạ lùng hay bất thường không? Bà có bỏ qua dấu hiệu cảnh báo nào không? Ông ta sắp lừa bà à, hay định cưỡng hiếp, bắt cóc? Ông ta có ý đồ đen tối? Hay bị điên? Hay là người xấu?
Cứ mỗi khi gặp ai đó, bà lại lặng lẽ tự hỏi mình những câu tương tự. Bà thuộc típ người hoài nghi, ngay cả trước khi con gái mất tích và bị xác nhận đã qua đời mười năm sau đó, bà đã chẳng tin tưởng ai. Ông Paul lúc nào cũng nói ông phải trường kỳ mới chinh phục được bà. Bà Laurel không chịu cưới ông mãi tới khi Jake đã lẫm chẫm biết đi, tất cả chỉ vì bà sợ ông xem mình là người qua đường và sẽ bị bỏ rơi ngay tại phòng đăng ký kết hôn. Đó là hồi xưa, bây giờ bà hỏi những câu hỏi ấy thường xuyên hơn nhiều. Bởi bà biết hậu quả tồi tệ nhất không chỉ là một điều tệ hại nào đó mà bà tưởng tượng ra.
Nhưng người đàn ông trước mặt - với mái tóc muối tiêu, đôi mắt xám, làn da mềm và đi giày đẹp, dù bà đã soi rất kỹ vẫn không nhận ra điểm gì bất thường ngoài chuyện ông ta đang nói chuyện với bà. Bà đáp lại lời khen, “Cảm ơn,” sau đó lùi ghế lại về bàn mình. Bà lưỡng lự, nửa muốn ra về nửa nấn ná chờ ông ta gọi ở lại.
“Bà phải đi à?” Ông ta cất tiếng.
“À phải,” bà ậm ừ, trong đầu cố nghĩ ra việc gì đó cần phải làm. “Tôi đi thăm con gái.”
Sự thật là bà đâu có tính đi gặp con gái lúc này. Bà còn chẳng bao giờ gặp nó nữa là.
“Bà có con gái à?”
“Đúng vậy. Thêm một đứa con trai nữa.”
“Một trai và một gái.”
“Đúng vậy,” bà đáp lại mà nghe tim đau nhói, bởi đã bỏ qua đứa con gái xấu số.
“Tôi có hai con gái.”
Bà gật đầu và đeo túi lên vai.
“Chúng bao nhiêu tuổi rồi?”
“Một đứa hai mươi mốt, đứa còn lại chín tuổi.”
“Hai đứa có ở cùng ông không?”
“Tôi sống cùng con gái út, đứa lớn ở với mẹ.”
“Vậy à?”
Ông khách mỉm cười. “Phức tạp lắm.”
“Chẳng phải thế sao?” Bà cười đáp lại.
Người đàn ông xé một góc của tờ báo để trên bàn bên cạnh, tìm cây bút chì trong túi áo khoác rồi đề nghị: “Tôi thực sự thích nói chuyện với bà lắm. Nãy giờ vẫn chưa đủ nên tôi tha thiết mời bà đi ăn tối.” Ông viết vội một con số trên mảnh giấy, đưa cho bà kèm câu nói, “Gọi cho tôi nhé.”
_Gọi cho tôi nhé._
Đơn giản mà sao đầy vẻ tự tin, chắc nịch và thẳng thắn đến thế? Bà chưa từng nghĩ rằng lại có một người như thế.
Bà nhận mảnh giấy, xoa miết nó bằng các đầu ngón tay. “Được,” bà nói rồi sửa lại, “À, có thể.”
Ông ta cười lớn, tỏ vẻ rất hài lòng. “Với tôi, có thể là tốt rồi.”
Bà Laurel đi vội ra khỏi quán và không quay đầu lại.
Chiều hôm ấy, bà Laurel làm điều mà bà chưa từng làm. Bà ghé qua nhà Hanna mà không báo trước. Thấy mẹ đứng trước cửa nhà, vẻ mặt của Hanna tới chín mươi phần trăm hoang mang, còn lại mười phần trăm là e ngại.
“Mẹ à?”
“Ừ, chào con yêu.”
Hanna liếc sau lưng mẹ, cứ như thể sẽ tìm thấy một lý do hiển hiện cho việc mẹ mình đột ngột xuất hiện ngay trước mắt.
“Mẹ ổn chứ?”
“Ừ, mẹ ổn. Mẹ chỉ ghé qua xem sao thôi. Mẹ cảm thấy lâu rồi không gặp con.”
“Con mới gặp mẹ hôm Chủ nhật mà.”
Hôm ấy, Hanna tạt qua để đưa mẹ chiếc laptop cũ nhưng không vào nhà.
“Mẹ nhớ mà. Nhưng chưa phải là gặp đúng nghĩa.”
Hanna vừa đổi chân vừa hỏi mẹ. “Mẹ vào nhà chứ?”
“Có chứ con yêu. Cảm ơn con.”
Hanna đang mặc quần thể dục, áo thun bó màu trắng có từ “Cheri” trước ngực. Vốn dĩ Hanna ăn mặc không quá sành điệu. Khi đi làm, cô thích mặc bộ suit màu đen hiệu Banana Republic, còn ở nhà xỏ quần áo thoải mái. Bà Laurel không rõ con gái mặc gì vào buổi tối bởi họ chưa bao giờ đi chơi tối với nhau.
“Mẹ uống trà không?”
“Giờ mà uống trà thì hơi trễ rồi.”
Hanna đảo mắt. Cô không mấy để ý đến cách mẹ mình uống các thức uống có caffeine, điều đó khiến cô bực mình.
“Con định uống cà phê. Con lấy cho mẹ một tách luôn nhé?”
“Không cần đâu con, thật đấy.”
Bà Laurel nhìn con gái đi lại trong căn bếp nhỏ, mở rồi đóng tủ đựng bát đĩa. Hanna không để lộ điều gì thông qua ngôn ngữ cơ thể khép kín của mình, đến nỗi bà Laurel tự hỏi không biết bà và con gái có từng gần gũi bao giờ hay chưa.
“Mẹ đã ở đâu vậy?” Hanna hỏi.
“Con hỏi gì cơ?”
“Mẹ nói mẹ từ đâu đó ghé qua nhà con mà.”
“À ừ, phải rồi. Mẹ đi làm tóc.” Bà Laurel lại chạm tóc, nhận thấy lời nói dối vô hại khiến bà áy náy.
“Trông đẹp đấy mẹ ạ!”
“Cảm ơn con yêu!”
Trong túi áo bà, mảnh giấy báo có số điện thoại và cái tên “Floyd” viết quấy quá ngọ nguậy khi bà mở lời. “Có chuyện buồn cười lắm.”
Hanna nhìn mẹ dè chừng. Hanna luôn có ánh nhìn như vậy mỗi khi mẹ cô bắt đầu nói chuyện - về bất cứ điều gì - như thể cô sợ bị kéo vào một mớ bòng bong nào đó mà mình không đủ sức chịu đựng.
“Có người cho mẹ số điện thoại và mời đi ăn tối.”
Ánh mắt e dè chuyển thành hoảng hốt. Bà Laurel sẵn sàng làm bất cứ điều gì, trả bất cứ giá nào hoặc cho hết mọi thứ để đổi lấy đứa con nói chuyện với mình là Ellie chứ không phải Hanna. Ellie sẽ hò reo, cười tươi rói rồi lao tới ôm chặt lấy mẹ. Sau đó, con bé sẽ nói với bà rằng chuyện đó thật đáng kinh ngạc, cực kỳ hay ho và tuyệt vời.
“Dĩ nhiên là mẹ không gọi cho ông ta đâu. Không đời nào. Nhưng chuyện này làm mẹ nghĩ về chúng ta. Tại sao tất cả chúng ta lại xa rời nhau như những hòn đảo riêng biệt?”
Hanna không giấu được giọng điệu buộc tội trong lời nói của mình. “À, phải.”
“Rất lâu rồi mà chúng ta vẫn chưa tìm ra cách đoàn tụ lại thành gia đình như xưa. Tất cả chúng ta cứ như đã mắc kẹt bên trong chính mình, vào ngày hôm đó. Ý mẹ là, nhìn con xem.” Ngay khoảnh khắc thốt ra lời, bà Laurel biết chắc những gì bà nói mang sắc thái ý nghĩa hoàn toàn khác.
“Gì cơ?” Hanna ngồi thẳng lưng lên, các ngón tay thôi đan vào nhau. “Con làm sao hả mẹ?”
“À, con rất tuyệt, chắc chắn là như thế. Mẹ rất tự hào về con. Con làm việc chăm chỉ và đạt được nhiều thành tựu. Nhưng có bao giờ con nghĩ rằng cuộc sống của con quá đơn điệu không? Ý mẹ là, ngay cả một con mèo con cũng không có.”
“Sao hả mẹ? Mèo ấy hả? Mẹ không đùa đấy chứ? Làm sao con nuôi mèo được hả mẹ? Con ở ngoài cả ngày cả đêm. Con mà nuôi mèo thì chả bao giờ giáp mặt nó…”
Bà Laurel chìa tay về phía con gái. “Quên chuyện con mèo đi. Mẹ chỉ ví dụ thôi. Ý mẹ là sau thời gian làm việc, con còn gì khác không? Còn gì để quan tâm nữa không? Bạn bè hay bồ bịch gì đó?”
Cô con gái từ từ chớp mắt nhìn mẹ. “Sao mẹ lại hỏi con về đàn ông? Mẹ thừa biết là con không có thời gian dành cho họ mà. Con chẳng có thời gian cho thứ gì hết, kể cả cuộc nói chuyện này.”
Bà Laurel thở dài, đưa tay xoa sau gáy. “Mấy lần gần đây khi đến dọn dẹp, mẹ để ý thấy con không về nhà đêm trước đó.”
Mặt Hanna đỏ lên rồi nhăn nhó. “Vì vậy mà mẹ nghĩ con có bạn trai à?”
“Ừ, mẹ nghĩ thế.”
“Không, mẹ ơi,” Hanna mỉm cười vẻ kẻ cả, “tiếc là không phải. Không có gã bạn trai nào cả, chỉ là tiệc tùng, ăn uống thôi. Con ở lại chỗ bạn bè.” Cô nhún vai rồi lại bóc chỗ da khô quanh ngón tay.
Bà Laurel nheo mắt. Hanna mà tiệc tùng sao? Cử chỉ của Hanna tiết lộ điều ngược lại và bà Laurel chẳng hề tin lời con gái nói. Nhưng bà không làm tới, thay vào đó nở nụ cười gượng ép và nói, “Mẹ hiểu rồi.”
Hanna dịu giọng, rướn người về phía mẹ. “Con còn trẻ mà mẹ. Sau này sẽ có thời gian cho đàn ông, cả mèo nữa. Chỉ là không phải bây giờ thôi.”
Nhưng còn chúng ta thì sao, khi nào cuộc sống kiểu này mới kết thúc? Khi nào chúng ta mới trở lại là một gia đình? Khi nào chúng ta mới thật sự cười nói mà không mang trong mình cảm giác tội lỗi?
Đó là những điều bà Laurel muốn hỏi nhưng lại không nói thành lời. Thay vào đó, bà vươn tay qua bàn nắm lấy tay cô con gái ngồi đối diện. “Mẹ biết mà con yêu. Mẹ biết hết. Mẹ chỉ mong con hạnh phúc, mẹ mong tất cả chúng ta hạnh phúc. Mẹ mong…”
“Mẹ mong Ellie trở lại.”
Bà Laurel ngạc nhiên ngước nhìn Hanna. “Đúng rồi, mẹ mong Ellie trở lại.”
“Con cũng vậy. Nhưng chúng ta đều biết Ellie sẽ không về nữa và chúng ta phải chấp nhận điều này.”
“Con nói hoàn toàn đúng,” bà Laurel đáp lời trong lúc tay bà lại vần vò mảnh giấy trong túi áo. Đột nhiên, sống lưng bà lạnh toát.