Chương 16
“Chào ông Floyd. Tôi là Laurel. Laurel Mack.”
“Chào bà Mack.”
Giọng nói xuyên Đại Tây Dương mềm mại kia cất lên uể oải đầy vẻ biếng nhác và không màu mè.
“À, hay là cô nhỉ?”
“Tôi hiện không có chồng,” bà Laurel đáp lời.
“Chào cô Mack. Thật tốt khi cô đã gọi, tôi rất vui.”
Bà Laurel mỉm cười. “Vậy thì tốt.”
“Chúng ta lên kế hoạch ăn tối chứ nhỉ?”
“Tôi nghĩ là được, trừ khi…”
“Không có trừ khi gì cả. Trừ khi cô có sẵn lý do đặc biệt nào đó trong đầu.”
Bà bật cười. “Làm gì có chuyện đó.”
“Tốt quá,” ông ta nói. “Cô thấy tối thứ Sáu này được không?”
“Được đấy. Tôi thích thế,” bà nói mà thậm chí không kiểm tra xem hôm đó mình có rảnh hay không.
“Cô có muốn vào khu trung tâm không? Ngắm đường phố lung linh một chút? Hay chúng ta đi đâu đó gần chỗ tôi, hoặc chỗ cô cũng được.”
“Ngắm đèn đuốc phố xá cũng hay đấy,” giọng bà Laurel bắt đầu hồi hộp như thể một thiếu nữ.
“Tôi đã hy vọng cô nói thế đấy. Cô thích món Thái không?”
“Có chứ.”
“Được rồi, phần còn lại để tôi lo. Tôi sẽ đặt chỗ và báo cô chi tiết sau,” ông ta nói.
“Ồ tuyệt. Ông thật là…”
“Giải quyết hiệu quả?”
“Hiệu quả. Đúng vậy và còn…”
“Kích động?”
Bà Laurel lại bật cười. “Tôi đâu có định nói thế.”
“Nhưng đó là sự thực. Tôi là một gã mê cảm giác mạnh, lúc nào cũng thích phiêu lưu vui vẻ. Tôi sống như thế đấy.”
“Ông thật vui tính.”
“Cảm ơn cô.”
“Gặp lại ông vào thứ Sáu nhé.”
“Chắc chắn rồi, trừ khi…” ông ta lấp lửng.
Bà Laurel luôn chăm chút vẻ bề ngoài. Ngay cả những ngày tăm tối khi Ellie mới mất tích, bà vẫn tắm rửa, chọn lựa quần áo cẩn thận. Bà cũng không quên dùng kem che khuyết điểm đắt tiền phủ lên quầng thâm mắt và chải cho đến khi tóc sáng bóng lên. Bà chưa bao giờ buông bỏ bản thân. Bản thân là tất cả những gì bà còn lại trong chuỗi ngày tháng đó.
Bà luôn chăm chút vẻ ngoài tươm tất nhưng thực ra bà đã không còn lăn tăn chuyện xấu đẹp từ lâu rồi, có thể là từ năm 1985 khi bà và ông Paul chung sống với nhau. Hậu quả là giờ đây, bà dối diện khuôn mặt ngờ nghệch trong gương với túi mỹ phẩm để mở. Cảm giác căng thẳng xâm chiếm khiến bà chải mascara lên mí mắt thay vì dùng bút kẻ. Chưa hết, bà còn tự trách móc và cáu kỉnh vì đã để khuôn mặt mình trở nên già nua, vì không được xinh đẹp và không sinh ra với gene của Christy Turlington[9]. Tất cả những dằn vặt này đều là cảm giác mới lạ.
Bà nhăn mặt lấy bông tẩy trang lau vết mascara đi, không quên lẩm bẩm chửi thề, “Chết tiệt.”
Trên chiếc giường sau lưng bà là cả một tủ quần áo. Thời tiết tối nay lạ thật. Giờ này trong năm mà oi bức nhưng dự báo lại có mưa rào và gió mạnh. Mặc dù thân hình bà khá chuẩn - mặc cỡ mười tiêu chuẩn - nhưng toàn bộ quần áo mặc đi chơi lại được sắm sửa từ hồi bà ngoài bốn mươi tuổi. Cái thì quá ngắn, cái thì hoa hòe lòe loẹt, cái lộ tay quá nhiều, cái lại lộ ngực quá đáng. Chẳng cái nào hợp cả! Cuối cùng, bà đành xỏ vào người chiếc áo tay dài màu xám, phối với quần dài ống loe màu đen. Nhìn chán òm nhưng khổ nỗi lại cực kỳ phù hợp.
Đã bảy giờ năm phút rồi, bà cần ra khỏi nhà trong vòng mười phút nữa mới kịp giờ hẹn với ông Floyd. Bà nhanh tay trang điểm cho xong, chẳng còn thời gian để xem thử mình đẹp hơn hay xấu đi.
Bà dừng lại một chút ở cửa trước căn hộ, nơi bà để hình ảnh của ba đứa con trên một chiếc tủ nhỏ. Bà thích cảm giác các con chờ đón mình trở về cũng như được chúng chào tạm biệt. Bà cầm tấm hình chụp Ellie lên; lúc đó con bé mười lăm tuổi, hình chụp hồi cuối tháng Mười trước khi nó mất tích. Khi ấy, họ đang ở Wales; mặt Ellie đỏ ửng vì gió biển và trò ném bóng trên bãi biển chơi cùng anh trai và chị gái. Cô bé cười hết cỡ, tới mức thấy cả thanh quản. Con gái út của bà Laurel đội chiếc nón len màu nâu có đính chùm len nhỏ trên chóp. Đôi bàn tay cô bé ẩn trong chiếc áo hoodie ngoại cỡ.
“Mẹ đi hẹn hò đây Ellie,” bà thì thầm với con gái. “Ông ta là người tinh tế. Ông ta tên Floyd, mẹ nghĩ ông ta sẽ thích con.” Ngón tay cái của bà mân mê nụ cười của con gái trong ảnh rồi xoa xoa lên nhúm len trên chiếc mũ.
Tuyệt quá mẹ ơi. Con mừng cho mẹ lắm. Vui nha mẹ! Bà như nghe con gái khích lệ.
“Mẹ sẽ cố, mẹ sẽ cố,” bà trả lời vào thinh không.
•••
Ánh đèn chiếu nhẹ nhàng bên trong nhà hàng mà ông Floyd chọn. Tường sơn hai màu đen và vàng, còn nội thất theo tông màu trầm. Chụp đèn làm bằng thạch anh tím xâu thành chuỗi che bên trên những bóng đèn halogen. Bà Laurel tới trễ hai phút và ông ta đã chờ sẵn ở đó.
Bà thầm nghĩ: “Ông ta trông trẻ hơn dưới ánh đèn này, do đó mình cũng phải trông trẻ hơn.” Ý nghĩ này làm dáng người bà uyển chuyển khi lại gần ông ta và để người đàn ông mới quen biết đứng lên hôn vào hai bên má.
“Trông cô thật duyên dáng,” ông ta khen.
Bà đáp lại: “Cảm ơn, ông cũng vậy.”
Floyd mặc chiếc áo sơ mi ca rô đen - xám, khoác ngoài là áo jacket nhung đen. Có vẻ ông ta đã cắt tóc sau lần đầu họ gặp nhau và từ người ông ta thoang thoảng mùi hương tuyết tùng kèm chanh.
“Cô thích nhà hàng này không?” Ông ta giả vờ hỏi một cách thắc thỏm (nhưng rõ ràng không lừa ai được).
“Tôi thích chứ. Nó tuyệt lắm,” bà Laurel trả lời.
Ông Floyd làm ra vẻ thở phào, khiến bà Laurel cười đáp lại.
Bà hỏi, “Ông tới đây bao giờ chưa?”
“Có rồi, nhưng mới vào buổi trưa thôi. Tôi luôn muốn tới vào buổi tối để thử bầu không khí tối tăm, u ám cùng số người mập mờ chật kín ở đây.”
Bà Laurel đảo mắt qua những thực khách xung quanh mình. Hầu hết có vẻ đến thẳng nhà hàng từ văn phòng làm việc hoặc có hẹn sẵn. “Cũng đâu mờ ám gì,” bà nhận xét.
“À, tôi thấy rồi. Tôi rất là thất vọng luôn đấy.”
Bà mỉm cười trong khi ông ta đẩy thực đơn tới.
“Cô đói chưa?”
“Tôi đói rã ruột rồi đây,” bà nói. Thật sự là vậy, cả ngày nay bà hồi hộp tới nỗi không ăn được gì. Giờ đây, khi ngồi đối diện với ông Floyd và nhớ lại vì sao mình chịu ăn chung miếng bánh với ông ta, sau đó gọi điện thoại để sắp xếp cuộc hẹn này, vị giác mới trở về với bà.
“Cô thích món cay không?”
“Tôi thích lắm.”
Ông ta nhìn bà nói: “Cảm ơn Chúa, tôi chỉ thích người mê món cay thôi. Khởi đầu không tệ chút nào.”
Họ mất thêm một lúc nữa để xem thực đơn.
Ông Floyd hỏi han rất nhiều: Cô có đi làm không? Có anh chị em gì không? Cô sống trong căn hộ như thế nào? Có sở thích gì? Có nuôi thú cưng gì không? Đến khi nước uống của họ sắp được phục vụ, ông ta hỏi, “Con cô bao nhiêu tuổi rồi?”
Bà vo chiếc khăn ăn trong lòng, trả lời, “Một đứa hai bảy và một đứa hai chín.”
“Ồ,” ông ta nhìn bà đầy ngờ vực. “Trông cô không lớn tuổi đến mức có con ở độ tuổi ấy. Tôi cứ nghĩ, những đứa trẻ cùng lắm là tuổi dậy thì thôi.”
Bà biết điều đó hết sức vô nghĩa. Mất đi một đứa con khiến bạn già sọm đi còn nhanh hơn ngồi đốt thuốc lá liên tục trên bãi biển. “Tôi sắp năm mươi lăm tuổi rồi. Bề ngoài của tôi đúng với tuổi.”
Ông Floyd phản bác, “Không đâu, nhìn cô rất tuyệt, chỉ khoảng bốn mươi mấy.”
Bà nhún vai bỏ qua lời khen, nó quá vớ vẩn.
Người đối diện mỉm cười, rút kính đọc sách từ túi trong áo khoác ra. Ông ta vừa đeo kính vừa nói, “Chúng ta gọi món nhé?”
Họ gọi quá nhiều, các món ăn thi nhau được đưa lên, khẩu phần lại lớn hơn những gì họ mường tượng. Thế là phần lớn bữa tối được dùng để xếp lại ly, chai nước và điện thoại để có chỗ đặt món ăn. “Phải món này không? Làm ơn nói đúng là nó đi,” họ đùa nhau như vậy mỗi lần có món mới lên. Ban đầu họ uống bia, sau đó chuyển sang vang trắng.
Ông Floyd kể cho bà Laurel nghe chuyện ông ly dị vợ, người đã sinh ra đứa con gái lớn của ông. Tên cô bé là Sara-Jade. “Tôi muốn đặt tên nó là Sara-Jane, vợ cũ lại thích gọi là Jade. Điều đó dẫn đến một thỏa hiệp: Tôi vẫn gọi là Sara, vợ cũ tôi gọi là Jade, còn con bé tự gọi mình là SJ,” ông ta nhún vai. “Cô đặt tên con thế nào cũng được và chúng toàn quyền biến tấu cái tên ấy.”
“Cô bé trông thế nào?”
“Sara ấy à? Con bé…” Lần đầu tiên bà Laurel thấy sự sôi nổi bẩm sinh của ông Floyd dịu đi một chút. “Con bé không được bình thường. Nó, ừ thì…” Dường như không biết phải nói thế nào, cuối cùng ông ta nói: “Chắc cô phải gặp con bé mới biết được.”
“Ông hay gặp nó không?”
“Có chứ, nhiều lắm. Nó vẫn sống với vợ cũ của tôi nhưng hai mẹ con không hòa hợp lắm nên cô ta xem tôi như cửa thoát hiểm. Hầu như cuối tuần nào con bé cũng ở với tôi. Thật lòng mà nói là vừa vui vừa không thoải mái lắm,” ông ta cười gượng gạo.
“Cô con gái còn lại của anh tên gì?”
“Poppy.” Khuôn mặt Floyd sáng lên khi ông ta nhắc đến cô bé.
“Cô bé thế nào? Có phải là rất khác so với Sara-Jade không?”
“Chúa ơi, khác chứ.” Ông ta chậm rãi gật đầu, đầy vẻ cường điệu. “Thật đấy, Poppy rất tuyệt. Con bé cực kỳ giỏi toán, có khiếu hài hước tỉnh rụi dễ nể và không để ai ảnh hưởng đến mình. Con bé luôn lôi tôi về thực tế, nhắc cho tôi nhớ tôi không phải là kẻ quan trọng nhất. Con bé đè bẹp tôi dễ dàng trên mọi phương diện.”
“Wow, cô bé tuyệt đấy!” Bà Laurel nói mà trong lòng thầm nghĩ cứ như ông ta đang tả cô con gái xấu số của bà.
“Rất tuyệt. Tôi thấy mình có phúc lắm.”
“Thế làm sao cô bé lại sống với ông?”
“À, đây là chỗ phức tạp nhất đấy. Poppy và Sara-Jade không phải là con cùng một mẹ. Mẹ của Poppy là… Tôi không biết nói sao nữa, đại khái là một mối quan hệ qua đường vượt quá giới hạn. Cô hiểu ý tôi chứ? Poppy sinh ra ngoài kế hoạch. Chúng tôi cũng cố gắng sống như một cặp đôi bình thường một thời gian nhưng rốt cuộc lại công cốc. Và rồi khi Poppy được bốn tuổi, cô ta biến mắt.”
“Biến mất?” Tim bà Laurel đập nhanh hơn vì cái từ quá sức ám ảnh đối với bà.
“Đúng thế. Bỏ Poppy trước cửa nhà tôi, rút hết tiền trong tài khoản ngân hàng của cô ta, bỏ luôn nhà cửa, công việc và mất hút từ đó tới nay.”
Ông Floyd cầm lấy ly rượu, nhấp một ngụm chừng mực như thể chờ phản hồi của bà Laurel.
Bà Laurel ôm lấy cổ mình. Đột nhiên bà cảm thấy có bàn tay số phận, rằng cuộc gặp gỡ giữa bà với người đàn ông hấp dẫn lạ lùng này không phải chuyện ngẫu nhiên như bà tưởng. Dường như họ nhận ra ở nhau những hố sâu bí ẩn, nơi dành cho những kẻ đặc biệt chẳng may bị lôi ra khỏi đời sống bình thường một cách kịch tính và khó hiểu.
“Tội nghiệp Poppy,” bà Laurel thốt lên.
Ông Floyd nhìn xuống khăn trải bàn, lăn lăn một hạt gạo dưới ngón tay. “Quả là như vậy,” ông ta nhìn nhận.
“Ông nghĩ bà ấy đã gặp chuyện gì?”
“Mẹ Poppy ấy à?” ông ta hỏi lại. “Chúa ơi, làm sao tôi biết được. Cô ta là một phụ nữ lạ lùng. Cô ta có thể trôi nổi tới bất cứ chỗ nào. Bất cứ chỗ nào theo đúng nghĩa đen đấy.”
Bà Laurel nhìn người đối diện, cân nhắc xem có nên hỏi câu tiếp theo hay không. “Có bao giờ ông nghĩ rằng bà ấy đã chết không?”
Trước cái nhìn tối tăm của ông Floyd, bà Laurel biết mình đã đi quá xa. “Ai mà biết chứ? Ai biết được?” ông ta lặp lại.
Tiếp đó, nụ cười quay trở lại. Họ tiếp tục trò chuyện, gọi thêm rượu vang. Niềm vui khởi sắc và cuộc hẹn tiếp tục suôn sẻ.