Chương 17
Ngay khi về tới nhà, bà Laurel mở laptop lên, đeo kính và tìm hiểu cái tên Floyd Dunn trên Google. Họ hàn huyên suốt cả buổi tối, cho tới khi nhà hàng đề nghị hết sức nhã nhặn mới chịu ra về. Ông Floyd nhẹ nhàng gợi ý đi chơi tiếp. Ông ta là thành viên một câu lạc bộ nào đó (“Không phải kiểu câu lạc bộ hào nhoáng ăn chơi đâu, chỉ là quán bar có vài cái ghế bành và mấy loại rượu, đồ ăn kiểu xưa xưa thôi,” ông ta rủ rê). Tuy nhiên, bà Laurel muốn về High Barnet trước khi tàu điện ngầm ngừng chạy, thế nên họ chia tay ở giao lộ Piccadilly Circus. Ngồi trên tàu điện, bà Laurel nhìn hình ảnh phản chiếu của mình trên cửa sổ, cười với vẻ say xỉn, ngớ ngẩn. Giờ đây, bà đang mặc pyjama và ngậm bàn chải đánh răng trong miệng.
Chỗ quần áo bà bỏ lại trên giường trước khi đi giờ đây chất đống trên ghế bành, còn đồ trang điểm vẫn nằm vương vãi trên bàn. Bà chẳng còn hơi sức đâu thu dọn. Những gì bà muốn lúc này là thu mình lọt thỏm trong chiếc bong bóng mà bà và ông Floyd tạo ra tối nay, không để gai góc cuộc đời len lỏi vào.
Chỉ sau vài giây google, bà Laurel phát hiện ông Floyd không chỉ là nhà toán học - như ông ta tiết lộ với bà trong bữa tối - mà còn là tác giả của nhiều cuốn sách được đánh giá cao về lý thuyết số và vật lý toán học.
Bà nhấp vào Google hình ảnh và chăm chú nhìn khuôn mặt ông Floyd qua các giai đoạn khác nhau của cuộc đời cũng như những tạo hình khác nhau. Trong vài hình ảnh, rõ ràng ông ta trẻ hơn: khoảng gần bốn mươi tuổi, tóc dài, mặc áo sơ-mi hở nút. Tấm hình đó được dùng ở ô tác giả trong một số cuốn sách đầu tay của ông ta, thể hiện chút gì đó lông bông. Bà nhất định sẽ không ăn chung miếng bánh với gã đàn ông mang hơi hướm một giảng viên cô đơn của Đại học Mở vào đầu thập niên 1980 như vậy đâu. Mấy tấm ảnh về sau trong chừng mực nào đó đúng là ông Floyd hiện nay. Dù tóc có bồng bềnh và sẫm màu hơn, quần áo không chỉn chu bằng nhưng về cơ bản đúng là người đàn ông mà bà vừa ăn tối cùng.
Bà muốn biết nhiều hơn về Floyd. Bà muốn gắn kết với ông ta và chìm đắm trong thế giới thú vị của người đàn ông ấy. Bà muốn gặp lại ông ta, không chỉ một lần. Rồi bà nghĩ tới Paul, tới Bonny của ông ấy. Bà từng không thể tin được khi chồng cũ tới nói với bà rằng ông đã gặp gỡ một phụ nữ khác và sẽ dọn về ở với người đó.
Bà không tài nào hiểu được làm sao Paul tìm được một nơi chốn êm ái đến thế. Nơi đó có người xoa dịu cơn đói trong bao tử, bàn tính những kế hoạch tương lai và ôm lấy nhau thân ái. Giờ đây, điều tương tự xảy ra với bà và đột nhiên, bà khao khát gọi điện cho ông Paul.
Bà tưởng tượng mình sẽ nói: Này Paul, em vừa gặp một gã rất được. Anh ta vừa thông minh, vui tính lại vừa hấp dẫn, tử tế.
Bà nhận ra đây là lần đầu tiên trong nhiều năm bà muốn nói chuyện với Paul hơn là Ellie.
Ngày hôm sau lại bị bao trùm bởi sự im lặng nhức nhối.
Thông thường vào thứ Bảy, bà Laurel tới chơi với hai người bạn Jackie và Bel. Ba người họ dính như sam khi học chung trường ở Portsmouth. Khoảng ba mươi năm trước, khi mới ngoài hai mươi và đều sống ở London, trong một lần đi chơi ở quán bar tại Soho hai người kia nói với bà Laurel rằng họ đang hẹn hò với nhau. Mười một năm trước, bà Bel cho ra đời một cặp song sinh nam khi đã ngoài bốn mươi. Cũng như bà Laurel, họ tận hưởng niềm hạnh phúc được làm cha mẹ. Năm đầu tiên sau khi Ellie biến mất, bà Laurel xem ngôi nhà chìm trong tã lót, đồ nhựa, những tuýp yogurt hồng ở Edmonton là nơi tị nạn cho mình.
Nhưng cuối tuần này họ vắng nhà vì bận đưa hai cậu nhóc đi thi đấu giải bóng bầu dục ở Shropshire. Thế là từng phút một trôi qua một cách nặng nề, làm bầu không khí trong nhà bà Laurel trở nên khó chịu.
Bà nghe rõ mồn một tiếng hàng xóm đóng cửa, gọi con cái, khởi động xe hơi, dẫn chó đi dạo…, những âm thanh đó càng khiến tâm trạng đơn độc nghiến vào lòng bà. Chẳng có cuộc gọi nào của Floyd, tin nhắn cũng không. Bà đã già rồi, quá già để chờ đợi kiểu này. Tới đêm thứ Bảy, bà quyết định ngừng hết mấy chuyện tơ tưởng. Thật là dở hơi, lố bịch. Bà là người phụ nữ đã bị tàn phá bởi hàng tấn chuyện phiền não trong khi Floyd dễ dàng kiếm được cuộc hẹn với phụ nữ nhờ vẻ quyến rũ bẩm sinh. Nếu muốn, ông ta thừa sức làm vậy mỗi đêm. Biết đâu giờ này ông ta đang ngồi trong quán cà phê nào đó, nhấm nháp lát bánh cà rốt với ai đó khác.
Sang Chủ nhật, bà Laurel quyết định đi thăm mẹ. Bà thường thăm mẹ vào thứ Năm nên nhất thiết không phải đi hôm nay. Nhưng bà không thể ở nhà một mình thêm một ngày nữa. Đơn giản là không thể.
Mẹ bà Laurel đang ở một viện dưỡng lão tại khu Enfield, cách nơi bà sống khoảng hai mươi phút lái xe. Tòa nhà đó mới xây, với gạch đỏ và cửa sổ bằng kính màu khói. Lớp kính đó sẽ ngăn người ta tự săm soi và khỏi phải nhìn thấy tương lai buồn thảm của chính mình. Bà Ruby, mẹ của bà Laurel, sau ba lần đột quỵ thì không còn nói được gì nhiều, trí nhớ rất kém và thị lực gần như mất hẳn. Bà rất buồn bã và thường tìm cách bày tỏ mong muốn được chết.
Bà Laurel đến nơi lúc mười một giờ rưỡi. Mẹ bà đang ngồi ghế, bên cạnh là một đĩa bánh quy có vẻ làm bằng yến mạch và một ly sữa - như thể bà là đứa trẻ lên bốn. Bà Laurel nắm lấy tay mẹ, vuốt ve làn da khô ráp. Bà nhìn vào đôi mắt mờ mịt của đấng sinh thành - như bà vẫn luôn làm - để tìm kiếm trong đó một bóng hình khác, bóng hình của người từng tóm lấy một chân, một tay của bà để lẳng xuống hồ bơi khi bà còn nhỏ. Người đó đuổi bắt bà dọc các bãi biển, tết tóc cho bà và làm cho bà món trứng ốp la giống y trong một chương trình truyền hình của Mỹ mà hai mẹ con cùng xem. Đã có lúc năng lượng của mẹ bà là vô hạn. Mái tóc xoăn đen của người phụ nữ ấy luôn tuột khỏi kẹp hoặc dây buộc. Bà luôn đi giày thấp để thoải mái chạy theo xe buýt và nhảy qua tường đuổi bắt bọn trấn lột.
Bà Ruby bị đột quỵ lần đầu sau khi Ellie mất tích bốn tháng và không bao giờ hồi phục được như cũ.
“Con đã đi hẹn hò vào tuần trước đấy mẹ ạ,” bà Laurel kể.
Người mẹ gật đầu và cố nặn khoé miệng thành một nụ cười chật vật. Bà muốn nói gì đó nhưng lại không biết dùng từ nào.
“T-t-t-t… t-t-t…”
“Được rồi mẹ à, con biết là mẹ hài lòng.”
“Tuyệt vời,” bà Ruby đột nhiên nói được trọn từ.
“Vâng,” nở nụ cười tươi rói, bà Laurel trả lời, “đúng vậy đó mẹ, trừ chuyện bây giờ con quá là căng thẳng thôi. Con thấy mình như trẻ mới lớn ấy, cứ nhìn chằm chằm vào điện thoại, cầu cho anh ta gọi đến. Thật là chẳng ra sao cả…”
Mẹ bà lại mỉm cười - hoặc là một mô phỏng của nụ cười mà bộ não hư tổn của bà tạo ra được. “T… tên gì?”
“Floyd mẹ ạ. Floyd Dunn. Anh ta là người Mỹ, cùng tuổi với con, hết sức thông minh, đẹp trai, hài hước. Anh ta có hai đứa con gái, một đứa sống cùng anh ta, đứa kia thì lớn rồi.”
Bà Ruby gật đầu, nụ cười vẫn trên môi. “Con… con… con… con… con…”
Bà Laurel di ngón cái trên mu bàn tay mẹ mình, mỉm cười khích lệ.
“Con… con… con gọi anh ta đi!”
“Con không gọi được đâu,” bà Laurel bật cười.
Người mẹ lắc đầu và tặc lưỡi không tán thành.
“Thật đấy, con không gọi nữa đâu. Con gọi anh ta lần đầu rồi. Con bật đèn xanh rồi, giờ tới lượt anh ta.”
Mẹ bà lại tặc lưỡi.
Bà Laurel trầm tư: “Hay là con gửi tin nhắn nói cảm ơn anh ta thôi nhỉ? Kiểu chuyền bóng lại cho anh ta ấy?”
Người mẹ gật đầu và nắm tay con gái, siết lấy một cách dịu dàng.
Mẹ bà Laurel quý Paul. Ngay từ đầu bà đã khuyên, “Tốt lắm con yêu, con tìm được một chàng trai tốt rồi đấy. Nhớ đối xử đàng hoàng với nó, đừng để tuột mất nó.” Bà Laurel đáp lại bằng nụ cười vẻ chế giễu, “Mẹ con mình cứ chờ xem,” bởi bà chưa bao giờ tin vào hạnh phúc cổ tích. Khi Paul và Laurel chia tay, bà Ruby vẫn giữ cái nhìn lạc quan. Bà thấu hiểu bởi ở bà có sự kết hợp hoàn hảo của cả hai cá tính lãng mạn và thực tế.
Bà Ruby dùng một tay sờ nắn túi xách của bà Laurel, rồi rút chiếc điện thoại ra đưa cho con gái.
“Gì cơ? Bây giờ luôn hả mẹ?” bà Laurel hỏi.
Mẹ bà gật đầu.
Bà Laurel thở dài, xong gõ tin nhắn. “Chuyện này mà be bét ra là mẹ chịu trách nhiệm hết đấy nhé,” bà vờ nghiêm mặt nói. Gõ xong, bà nhấn phím gửi và nhanh chóng khóa điện thoại, nhét lại vào túi. Hoảng vía vì điều mình vừa làm, bà đưa tay vuốt mặt, thốt lên: “Điên thật. Không tin được là mẹ lại ép con làm vậy.”
Đáp lại, bà Ruby bật cười. Một thứ âm thanh móp méo, lạ lùng thoát ra từ cổ họng bà. Dẫu vậy, đó vẫn là một tràng cười. Và Laurel nhận ra đã lâu lắm rồi, bà mới nghe mẹ mình cười như vậy.
Vài giây sau, điện thoại của bà Laurel đổ chuông. Ông ta gọi.