Chương 20
Bà Laurel không gặp lại ông Paul kể từ sau đám tang của Ellie. Họ đứng bên nhau trong lễ tang. Ông Paul không dẫn theo Bonny, thậm chí không hỏi rằng ông làm thế có được hay không.
Ông Paul là người tốt. Tốt trên mọi phương diện.
Hôm đó, ông đỡ lấy bà khi chân bà muốn sụm xuống trước cảnh quan tài được chuyển xuyên qua các tấm rèm trên nền bài hát “Somewhere Only We Know” của ban nhạc Keane. Ông đưa cho bà tách trà khi cả hai đến nhà mẹ ông sau đó. Rồi ông tìm thấy bà ru rú ở một góc vườn và đẩy bà trở vào nhà với lời hứa làm cho bà món đồ uống ưa thích - một ly Baileys[13] đá lớn. Họ vẫn ngồi bên nhau sau khi những người khác đã rời đi. Họ lắc đá trong ly và trêu đùa với nhau.
Tâm trạng bà Laurel trở nên méo mó, cứ lên lên xuống xuống, hết vui vẻ lại trầm mặc, hết dễ chịu lại xám xịt. Ông Paul không một lần xem điện thoại hay tỏ ra lo ngại sẽ về nhà trễ với Bonny. Sau cùng, họ rời nhà mẹ ông Paul lúc mười giờ tối, loạng choạng bắt xe ra về. Bà để ông ôm chặt lấy mình, mặt bà vùi sâu vào ngực ông, hít lấy cái mùi sạch sẽ, quen thuộc của ông. Vẫn là chiếc áo cũ hiệu Jermyn Street mềm mại. Suýt chút nữa bà đã ngẩng mặt lên và hôn ông.
Sáng hôm sau, bà tỉnh dậy, cảm thấy cuộc sống của mình rối tung lên và bị co kéo đủ hướng. Thế là bà không nói chuyện với ông Paul nữa. Nhưng giờ đây, cảm giác nhập nhằng ấy đã tan biến. Bà thấy mình hoàn toàn thoải mái đối mặt với chồng cũ nên đã gọi cho ông sau khi trở về từ căn hộ của Hanna.
Giọng ông trả lời ấm áp, “Chào em, Laurel.” À, vốn ông ấy luôn nói chuyện một cách nồng nhiệt. Đây là một trong nhiều điều khiến bà ghét ông suốt những năm tháng Ellie mất tích. Bà không chịu nổi cách ông mỉm cười thuần phác với cảnh sát, cánh báo chí và đám hàng xóm ồn ào. Bà không thích cách ông dùng cả hai bàn tay ấm áp cầm lấy tay họ, hỏi thăm sức khỏe của họ trong khi giảm nhẹ cơn ác mộng của gia đình. Lúc nào ông cũng cố làm mọi người cảm thấy dễ chịu hơn. Chứng kiến điều đó, trong đầu bà hiện ra cảnh đặt cả hai tay lên cổ chồng, siết chặt cho tới khi ông lăn ra chết.
Bây giờ khác rồi, chất giọng của ông đã hòa hợp với tâm trạng của bà. Bà có thể lại khen ngợi ông rồi. Thật đáng yêu, Paul Mack ạ, một người đàn ông rất tốt.
“Em sao rồi?” Ông hỏi.
“Em khỏe, cảm ơn. Anh thế nào?”
“Ồ, em cũng biết mà.”
Đúng là bà biết ông ổn. Bà bắt đầu câu chuyện, “Tuần sau là sinh nhật của em và Hanna. Em chợt nghĩ chúng ta có thể làm gì đó cùng nhau được không?”
Hanna chào đời chỉ sau thời khắc nửa đêm hai phút, đúng vào sinh nhật thứ hai mươi bảy của bà Laurel. Theo niềm tin của gia đình, Hanna ra đời để chiếm lấy sự chú ý của mọi người.
“Ý em là tất cả chúng ta? Em, anh và bọn trẻ?”
“Đúng rồi, bọn trẻ. Cả Bonny nữa, nếu anh muốn.”
“Tuyệt vời, anh thích chứ.” Giọng ông Paul hệt như một cậu bé được tặng chiếc xe đạp miễn phí. “Ý tưởng đó tuyệt đấy em ạ. Vào thứ Tư phải không?”
“Đúng vậy. Em chưa hỏi con bé. Biết đâu con bé bận gì đó. Nhưng em nghĩ sau cái năm chúng ta tìm thấy Ellie rồi chia xa nhau, chúng ta đã rạn nứt quá nhiều, quá lâu. Có lẽ bây giờ là lúc…”
“Trở về với nhau,” ông Paul cắt ngang. “Ý tưởng rất hay, Laurel ạ. Anh thích lắm. Anh sẽ nói với Bonny.”
“À, đợi em nói với bọn trẻ xong đã. Anh cũng biết là không dễ gì mà, tụi nó rất bận. Nhưng mà chúng ta cứ ngoéo tay nhé…” bà nói.
“Chắc chắn. Cảm ơn em, Laurel.”
“Không có gì mà anh.”
“Quả là một chặng đường dài phải không?”
“Và rất gian nan.”
“Anh nhớ em rất nhiều.”
“Em cũng vậy. Paul này…”
“Sao em?” Ông hỏi.
Bà dừng lại thoáng chốc, nuốt khan đầy khó nhọc và thốt lên từ sâu thẳm trong lòng những lời mà bà chưa từng nghĩ sẽ nói với chồng cũ: “Em xin lỗi.”
“Vì cái gì chứ?”
“Anh biết mà Paul. Anh không cần giả vờ đâu. Em đã cư xử với anh như một con khốn.”
Ông Paul thở dài, “Laurel à, em chưa bao giờ là con khốn cả.”
“Không đâu, em còn tệ hơn thế.”
“Em chỉ phản ứng như một người mẹ thôi Laurel. Tất cả chị có thế.”
“Những người mẹ khác mất con chứ đâu để mất luôn chồng.”
“Laurel à, em không mất anh. Chúng ta vẫn là của nhau. Anh vẫn luôn thuộc về em.”
“À, điều này không đúng hoàn toàn, phải không?”
Ông Paul lại thở dài, “Theo nghĩa tốt nhất, với tư cách là cha của các con em, là một người bạn, là người đã cùng em chia sẻ một đoạn hành trình cũng như là người yêu và chăm sóc em. Không cần phải cưới em thì anh mới có được những tư cách trên, bởi chúng còn sâu sắc hơn hôn nhân và tồn tại mãi mãi.”
Đến lượt bà Laurel thở dài. Một nụ cười lúng túng hiện ra nơi khóe miệng bà. “Cảm ơn anh, Paul à,” bà nói rồi cúp máy nhưng vẫn giữ điện thoại trong lòng. Bà nhìn thẳng phía trước, ngấm ngầm cảm nhận sự bình yên mà bà tưởng không bao giờ gặp lại nữa.
Mới nghe nói đến cuộc gặp, giọng Hanna đã tỏ vẻ khó chịu. “Mẹ nói sao, tất cả chúng ta ư?” cô hỏi lại.
“Là mẹ, con, bố, Jake, cô Bonny và Blue.”
“Chúa ơi,” Hanna rên rỉ.
Bà Laurel không nhượng bộ. Bà biết trước Hanna sẽ chẳng tán đồng ý tưởng này. “Con cũng đã nói mà, đã đến lúc chúng ta sống tiếp. Chúng ta đều đã chữa lành vết thương rồi, cuộc gặp này là một phần của quá trình điều trị,” bà giải thích.
“Có thể với mẹ là thế. Nhưng mẹ chưa từng gặp cô Bonny, chuyện này sẽ bất tiện cỡ nào?”
“Sẽ không sao cả vì mẹ và bố con biết phải làm thế nào.” Đã bao lâu rồi bà mới dùng lại những từ ngữ này? Mẹ và bố con. “Chúng ta trưởng thành cả rồi, Hanna à. Không lý do lý trấu gì nữa. Con sắp hai mươi tám, còn mẹ đã ở tuổi về hưu. Chúng ta đã cùng nhau chôn cất Ellie. Cha con đang sống cùng người khác và ông ấy yêu người đó. Mẹ phải chấp nhận điều này và xem cô ấy là người trong gia đình. Với Jake và Blue cũng vậy. Dĩ nhiên là với con nữa…”
“Với con?”
“Ừ, con đấy. Và anh chàng nào đó đã tặng con bó hoa xinh đẹp.”
Im lặng lạnh lẽo trong một khoảnh khắc. Tiếp đó, Hanna hỏi, “Hoa nào?”
“Bó hoa trên bàn nhà bếp của con.”
“Không có bó hoa nào hết!”
“À, vậy thì là bó hoa tưởng tượng với những bông hồng tưởng tượng. Bó hoa đó đó.”
Hanna tặc lưỡi, “Đó không phải là bó hoa, chỉ là một chùm hoa thôi. Con tự mua mà.”
Bà Laurel thở dài rồi đáp lại, “Vậy là mẹ nhầm. Xin lỗi con.”
“Mẹ làm ơn thôi chế ra một anh bạn trai cho con được không? Không có bạn trai nào hết, ok?”
“Được rồi, xin lỗi con.”
“Con cũng không mê nổi cái ý tưởng đại gia đình ăn tối. Nghe kì cục quá!”
“Con rảnh không?”
Hanna dừng lại một chút rồi trả lời, “Không.”
“Không?”
“Con không rảnh vào sinh nhật mình, đúng ra là sinh nhật của mẹ con mình. Nhưng con có thể xoay xở vào ngày khác trong tuần sau.”
“Con định làm gì vào sinh nhật con?”
“Ăn uống sau giờ làm thôi mẹ, không có gì đặc biệt đâu.”
Bà Laurel chậm rãi chớp mắt. Bà biết con gái mình đang nói dối. Cái gã tên “T” kia sẽ đưa con bé đến nơi nào đó đặc biệt. Nhưng bà không nói ra. Thay vào đó, bà cân nhắc, “Thứ Sáu con thấy sao?”
“Được,” Hanna trả lời. “Được. Nhưng nếu bữa ăn biến thành một thảm họa đáng ghét thì từ nay đến hết đời, con sẽ đổ lỗi cho mẹ.”
Bà Laurel mỉm cười.
Bà hẹn gặp ông Floyd vào tối thứ Năm. Không cần chờ đợi mỏi mòn hay kiềm chế gì nữa, bởi ông ta đã nhắn tin cho bà chỉ trong vòng ba mươi phút sau khi bà rời nhà ông ta vào sáng thứ Tư. Đó là cuộc hẹn tuyệt nhất với anh. Poppy thích em. Anh gặp lại em lần nữa nhé? Làm ơn đi, vào ngày mai nhé?
Tin nhắn đến điện thoại của bà ngay khi xe điện ra khỏi đường hầm ở East Finchley. Bà cười thầm và nhắn lại: Có thể. Trừ khi… :)
Bà mời ông ta tới nhà ăn tối. Ông Floyd nói rất thích và bảo sẽ nhắn SJ tới nhà ông ta ngủ.
Giờ thì bà đi mua đồ nấu bữa tối, vừa vui vẻ vừa căng thẳng lựa chọn thực phẩm. Từ lâu lắm rồi, bà làm mọi thứ theo thói quen chứ không phải vì nhu cầu. Bữa ăn nào cũng như bữa ăn nào, đều được nấu bằng những nguyên liệu quen thuộc mà bà chọn từ những kệ hàng giống nhau. Mọi bữa ăn của bà đều tuân thủ theo tiêu chuẩn calorie: ba trăm cho bữa sáng, bốn trăm cho bữa trưa và ba trăm cho bữa tối. Lượng calorie còn lại vừa đủ cho một thanh chocolate và vài chiếc bánh quy ở nơi làm việc, thêm hai ly rượu vang lúc cuối ngày. Bà vẫn luôn quy thực phẩm thành lượng calorie như thế.
Ngày Ellie biến mất cũng là ngày bà ngừng nấu ăn cho ông Paul và các con. Họ dọn dần dần từ đồ ăn trong tủ lạnh đến trong tủ đông. Nhiều lúc, ông Paul và Hanna cùng nhau đến Asda[14], trút đầy ắp chiếc xe đẩy khổng lồ với những “món chủ lực” như mỳ Ý, cá đóng hộp, xúc xích, thịt đông lạnh. Chẳng hề có cuộc chuyển giao chính thức hay thỏa thuận nào, ông Paul tiếp quản nhà bếp. Ông là một đầu bếp tệ hại, không biết cả nêm nếm chứ đừng nói tới cân đối bữa ăn. Dù vậy, những món ăn đầy thiện ý và nhạt nhẽo vẫn ra lò, cả nhà cứ ăn mà chẳng ai bị còi cọc hay chết vì suy dinh dưỡng. Có vấn đề gì đâu, bà từng nghĩ thế.
Nhưng giờ đây bà phải nấu ăn cho một người đàn ông, lại là người mà bà vừa qua đêm cùng và sẽ còn ân ái nữa. Người đàn ông đó dẫn con gái đến một nhà hàng Eritrea khi cô bé mới lẫm chẫm. Quả là nhiệm vụ quá sức khó khăn đối với bà.
Bà cầm tờ giấy in công thức món cơm jambalaya[15] của Jamie Oliver[16].
Cơm à? Có khó lắm không nhỉ?
Bà mua tiêu, hành tây, gà, xúc xích cay. Nhưng các món khác mới hạ bà đo ván: Món khai vị, rượu khai vị, tráng miệng, rượu, bà chẳng biết làm thế nào cả. Bà chất đống xe đẩy với các món khoai tây chiên nghe lạ tai - làm bằng bánh mì pitta và hạt đậu lăng, rồi quẳng thêm vài gói khoai tây chiên sẵn vị mặn của Walkers cho chắc ăn. Tiếp đó là mấy tuýp taramasalata[17], sốt hummus[18], sốt tzatziki[19] (nhưng bà bỏ lại tất cả sau khi nhận ra chúng không dùng chung với món ăn Mỹ). Nhưng, nguyên liệu nào đi kèm với món ăn Mỹ được đây? Ở New Orleans, họ nhấm nháp những gì trước khi ăn tối nhỉ? Bà bó tay và đành chọn một gói khai vị hiệu Tex-Mex, giống như loại sinh viên mua để tiệc tùng tại gia.
Bà dồn toàn lực vào món tráng miệng. Ông Floyd là người Mỹ nên bà chọn món bánh kem kiểu New York, nhưng ông ta lại rất yêu mến nước Anh nên bà chọn thêm kẹo bơ cứng. Lỡ ông ta no quá không ăn nổi tráng miệng? Biết đâu ông ta không ưa bánh tráng miệng? Thế là bà mua thêm một hộp chocolate bạc hà After Eight, trong đầu tưởng tượng ra đoạn đối thoại đại loại “chà, anh phải ăn một miếng chocolate bạc hà After Eight thì mới là người Anh đích thực nhé.” Cuối cùng, bà trả tiền, tống hết hàng hóa vào cốp xe hơi rồi thở phào.
Căn hộ của bà là một rào cản khác. Về cơ bản nó ổn. Bà không bày bừa nhưng cũng chẳng gọn gàng.
Chỉ cần mười phút dọn dẹp với máy hút bụi và túi rác là căn hộ đã đâu ra đấy rồi. Điều làm bà bận tâm là nhà bà thiếu dấu ấn cá nhân, nó thừa chỉn chu nhưng lại vô hồn. Sáng bóng, mới toanh, trần thấp, cửa sổ nhỏ nhưng chẳng có gì đặc biệt. Bà đã để bọn trẻ lấy đi hầu hết đồ đạc trong nhà cũ, nhiều món khác được bà đem làm từ thiện. Những thứ bà đem theo cực kỳ ít ỏi và điều này giờ đây khiến bà thấy tiếc. Hồi đó, bà cứ nghĩ mình sẽ chỉ ở trong căn hộ này một thời gian ngắn hoặc đây chỉ là nơi để bà sống nhợt nhạt cho đến khi chẳng còn gì níu kéo.
Bà tắm gội, cạo rửa, chăm sóc cơ thể đến từng chi tiết. Bà mặc pyjama nấu ăn để quần áo không bị ám mùi. Bà nhận ra các công đoạn băm chặt, cân đong đo đếm, nêm nếm, khuấy trộn vẫn thú vị như ngày xưa. Bà từng làm những việc này mỗi ngày trước đây - nấu những bữa ăn độc đáo, ngon lành và dinh dưỡng. Thỉnh thoảng, bà nấu hai lần trong một ngày. Ngày xưa, bà nấu ăn cho gia đình, để chứng tỏ tình yêu mình dành cho cả nhà, để cả nhà được khỏe mạnh, an toàn. Thế rồi con gái bà mất tích và sau đó được tìm thấy chỉ còn vài nhúm xương tàn. Cái cơ thể mà bà Laurel nuôi nấng gần mười sáu năm trời bị thú hoang xé xác và nằm vương vãi trên một nền đất rừng ẩm thấp. Bi kịch xảy ra bất chấp bà Laurel đã nấu cho cô bé biết bao món ăn thấm đẫm yêu thương.
Vậy thì, bà làm thế để làm gì?
Nhưng bây giờ bà đã nhớ ra. Nấu ăn không chỉ nuôi dưỡng thực khách, nấu ăn chính là nuôi dưỡng người đứng bếp.
Tới bảy giờ, bà đã ăn mặc xong xuôi: áo đen không tay phối với váy đỏ trơn. Lần hẹn này không ra khỏi nhà và cũng không phải đi bộ nên bà mang đôi giày cao gót cùng màu đỏ. Đúng bảy giờ mười lăm, điện thoại bà báo tin nhắn.
Thảm họa. Bị SJ phá. Anh đến cùng Poppy được không, nếu không phải đổi lịch hẹn. Chờ điện thoại của em.
Bà hít thở thật sâu. Phản ứng ban đầu của bà là bực bội. Vô cùng bực bội. Bà đã dốc bao nhiêu là tâm sức. Tẩy lông cả người này, dó là chưa nói tới việc thay tấm trải giường.
Nhưng khi bực bội qua đi, bà lại nghĩ tại sao lại không nhỉ? Tại sao không dành buổi tối cho Floyd và con gái ông ấy? Sao không tận dụng cơ hội để hiểu cô bé thêm một chút. Dù gì thì cũng đã đến lúc phải thay ga trải giường.
Thế là bà mỉm cười rồi nhắn lại. Anh cứ đến cùng Poppy nhé. Sẽ vui lắm đấy.
Ông Floyd trả lời ngay lập tức.
Tuyệt vời. Cảm ơn em. Có chuyện nhỏ này nhờ em. Con bé bị ám ảnh bởi hình ảnh của người khác. Nếu trong nhà có hình của Ellie, phiền em cất đi nhé. Anh chưa kể với con bé về Ellie và anh nghĩ tốt nhất là con bé không nên biết. Mong em hiểu cho :) .