Chương 21
Poppy mặc đầm nhung đen dài đến gối, bên ngoài là áo khoác vạt ngắn màu đỏ. Cô bé đi giày đỏ có đính nơ bướm. Cách mặc đồ của cô bé một lần nữa khiến bà Laurel băn khoăn lạ lùng. Nó thể hiện rõ ràng rằng Poppy thiếu bạn bè đồng trang lứa lẫn sự chăm sóc của người mẹ. Nhưng bà gạt cảm giác ấy qua một bên và dẫn ông Floyd cùng Poppy vào phòng khách, nơi ánh nến nhảy múa trên mấy bức tường trắng. Trong phòng đã có sẵn mấy tô đựng khoai tây chiên và món khai vị Tex-Mex đặt trên bàn cà phê. Nhạc mở êm dịu như xóa bớt các góc cạnh cứng nhắc của căn phòng nhỏ vuông vức. Một chai Cava nằm trong thùng ướp lạnh, còn mấy cái ly uống rượu lấp lánh dưới ánh nến.
“Căn hộ đáng yêu làm sao,” ông Floyd khen trong lúc đưa cho nữ chủ nhà một chai rượu và nhắc Poppy tặng bà bó lily mà cô bé vẫn cầm từ khi đến đây.
“Căn hộ chỉ có đúng chức năng ở thôi,” bà Laurel đáp lại lời khen.
Poppy nhìn quanh rồi cầm lấy mấy bức hình gia đình mà bà Laurel đặt trên bệ cửa sổ và tủ kéo. “Đây là con gái nhỏ của cô ạ?” Cô bé săm soi một tấm hình chụp Hanna hồi sáu hoặc bảy tuổi.
“Đúng vậy. Đó là Hanna, bây giờ thì không còn nhỏ nữa đâu. Tuần sau Hanna hai mươi tám tuổi rồi.”
“Còn đây là con trai cô?”
“Ừ, con cả của cô đấy, tên là Jake. Anh ấy sẽ tròn ba mươi tuổi vào tháng Một tới.”
“Trông anh ấy dễ mến ghê. Đúng không cô?” Poppy hỏi.
Bà Laurel đặt chai rượu vào tủ lạnh rồi quay lại phía Poppy. “Jake hả? Ừm, rất dễ mến. Gần đây cô không gặp anh ấy nhiều lắm. Con trai cô đang sống ở Devon.”
“Anh ấy có bạn gái chưa ạ?”
“Rồi. Chị ấy tên Blue. Hai người sống chung trong một căn nhà nhỏ, trong vườn có nuôi gà nữa. Jake làm giám định viên, Blue thì cô không chắc về nghề nghiệp, hình như việc gì đó liên quan đến đan len.”
“Cô có thích chị ấy không? Có vẻ cô không thích chị ấy đúng không ạ?”
Bà Laurel và ông Floyd lại nhìn nhau. Bà trông chờ ông nhắc Poppy không hỏi nữa nhưng ông ta tảng lờ.
Ông ta cứ nhìn Poppy với vẻ thích thú để xem cô bé còn hỏi tới cái gì nữa.
Bà Laurel đành nói tiếp, cố gắng nhẹ giọng đi, “Cô không biết nhiều về chị ấy. Chị ấy có vẻ ổn nhưng hơi kiểm soát một chút.” Rồi bà nhún vai nói tiếp, “Nhưng Jake trưởng thành rồi. Nếu anh ấy để ai đó kiểm soát mình thì đó là chuyện riêng của anh ấy.”
Nói rồi bà mời hai bố con ngồi xuống ăn khoai tây chiên. Ông Floyd làm theo, còn Poppy tiếp tục đi vòng quanh phòng tìm hiểu. “Cô có hình của chồng cô không?”
“Chồng cũ,” bà Laurel chỉnh lại, “cô không trưng hình chú nhưng chắc vẫn có ở đâu đó.”
“Chú tên là gì ạ? ”
“Paul.”
Poppy gật đầu hỏi tiếp, “Chú ấy là người thế nào?”
Bà Laurel cười khổ với Floyd, chờ ông ta giải cứu song người cha ấy tỏ ra hào hứng muốn biết về chồng cũ của bà không thua gì con gái ông ta. “Paul à? Chú ấy đáng mến, thực sự rất đáng mến. Rất dịu dàng và tốt bụng. Hơi nhẹ dạ một chút,” bà nói về chồng cũ.
“Vậy tại sao cô lại bỏ chú ấy?”
Á à, đây rồi, bà quả thật ngớ ngẩn khi không lường trước được mình sẽ đâm đầu thẳng vào ngõ cụt trong cuộc trò chuyện này.
Vậy mà ông Floyd vẫn ngồi im như không, thảnh thơi múc nước sốt rưới lên miếng khoai tây chiên pitta rồi cho vào miệng.
“Bọn cô chỉ là… ừm, đã thay đổi và mong muốn những điều khác hẳn nhau. Con cái cô lớn lên và ra ngoài sống, rồi bọn cô nhận thấy không muốn ở bên nhau trong phần đời còn lại nữa.”
“Chú ấy có cưới ai khác không ạ?”
“Không. Nhưng chú ấy có bạn gái và hai người sống cùng nhau.”
“Cô ấy dễ thương không? Cô thích cô ấy chứ?”
“Cô chưa bao giờ gặp cô ấy. Các con cô có gặp rồi và kể rằng cô ấy rất ngọt ngào.”
Cuối cùng, Poppy có vẻ cũng đã thỏa mãn và ngồi xuống cạnh bố mình. Ông ta xoa đầu gối con gái rồi bóp chặt trong chốc lát, hàm ý khen thăm dò giỏi lắm. Tiếp đó, ông ta rướn người về phía bàn cà phê, đặt tay lên cổ chai Cava và hỏi, “Anh khui nhé?”
“Vâng, anh khui đi. Hai bố con đi gì đến đây thế? Anh lái xe à?”
“Không. Bọn anh đi tàu điện ngầm. Em có thêm một cái ly nữa không?”
Bà Laurel thoáng bối rối rồi trước khi nhận ra ông Floyd muốn có ly cho Poppy, “Ồ, xin lỗi, em không nghĩ tới. Đây là phong cách Pháp, đúng không?”
“Phong cách Pháp là gì ạ?” Poppy hỏi.
“Cho trẻ em uống rượu ấy. Chuyện này không xảy ra ở nhiều nước khác đâu,” bà Laurel giải thích.
Ông Floyd nói thêm, “Chỉ sâm panh thôi, chỉ một ngụm và nhân những dịp rất quan trọng.”
Bà Laurel rót rượu và họ nâng ly mừng gặp mặt, mừng luôn vì SJ không chịu xuất hiện - điều đó có nghĩa là Poppy được thức khuya và mặc bộ đầm đẹp.
Bà Laurel chớp lấy cơ hội chuyển hướng câu chuyện, “Bộ đầm đẹp thật đấy. Ai dẫn cháu đi mua sắm quần áo vậy Poppy?”
“Bố cháu. Bố và cháu thường mua trên mạng nhưng thỉnh thoảng cũng ra đường Oxford,” Poppy trả lời.
“Cháu thích hiệu quần áo nào?”
“Cháu chưa thực sự ưng ý hiệu nào nhưng Marks & Spencer tốt thật đấy. Ngoài ra, bố và cháu luôn tới cửa hàng của John Lewis.”
“H&M thì sao? Cả Gap nữa?”
“Cháu không phải kiểu con gái mặc quần jean, áo hoodie… Cháu muốn theo phong cách… lịch thiệp.”
Ông Floyd lại đưa tay bóp đầu gối Poppy một lần nữa như muốn nói thế mới là con gái bố chứ.
“À, vậy cháu kể cô nghe về chuyện học tại nhà đi. Hai bố con học thế nào?”
“Cũng như trường học thật sự thôi ạ. Cháu ngồi học, sau đó nghỉ giải lao.”
“Cháu học mấy tiếng một ngày?”
“Hai hoặc ba ạ. Nói đúng ra là hai hoặc ba tiếng học với bố, vì bố còn phải làm việc mà. Thời gian còn lại cháu tự học,” Poppy trả lời.
“Có bao giờ cháu thấy buồn vì ở một mình không? Hay là muốn đi chơi với bạn bè cùng tuổi?”
“Khôngggg,” cô bé kéo dài câu trả lời với cú lắc đầu dứt khoát. “Không, không, không bao giờ.”
Ông Floyd chen vào một cách ngưỡng mộ, “Có thể nói Poppy đã bốn mươi tuổi rồi đó. Em cũng biết cảm giác này mà, khi mình bốn mươi tuổi và đột nhiên chẳng thèm quan tâm gì đến những thứ vớ vẩn từng làm mình lo lắng cả quãng đời trước đó ấy. Đó, Poppy đã đến ngưỡng ấy rói.”
“Khi cháu chơi với mấy đứa cùng tuổi, cháu chỉ biết đảo mắt ngao ngán và nhìn chúng như lũ khùng. Dĩ nhiên là không chơi chung được vì chúng nó cũng nghĩ cháu như con dở hơi.” Poppy nhún vai, cười lớn rồi uống đầy miệng bằng một ngụm rượu Cava.
Bà Laurel chỉ gật đầu. Bà có thể tưởng tượng ra cảnh đứa bé tự tin này trông như thế nào trước mặt lũ trẻ khác. Nhưng bà không cho rằng đó là cách ứng xử duy nhất; bà cũng không tin là Poppy không thể chơi đùa với bạn đồng trang lứa. Cô bé hoàn toàn có thể chấm dứt chuyện đảo mắt và xa lánh chúng bạn. Chỉ là Poppy chưa hiểu thế nào là lớn lên. Mang giày bóng lộn với nơ bướm đính bên trên rồi trợn mắt nhìn chúng bạn không phải là dấu hiệu trưởng thành. Đó chính là dấu hiệu bạn đã bỏ lỡ tất cả các bước trên con đường trưởng thành.
Hết sức đột ngột, bà Laurel cảm thấy đứa trẻ này cần một người mẹ và người mẹ đó, bà biết, cũng mong muốn một đứa con. Nhìn Poppy xem, con bé quá giống Ellie: giống từ khuôn mặt xinh xắn, hình dáng mái tóc, cái đầu đến đôi tai, cử động miệng và đường viền môi thiên thần. Tất cả đường nét ấy không khác gì được rút ra từ công thức toán học.
Những điểm khác biệt cũng rất dễ thấy. Lông mày Poppy dày hơn, cổ cao hơn, tóc rẽ ngôi khác nhau và dù cùng là tóc nâu nhưng khác về sắc độ. Chưa hết, mắt Ellie nâu hạt dẻ, còn mắt Poppy là nâu chocolate. Hai đứa không đến nỗi như bản sao của nhau nhưng có nét gì đó giống nhau ghê gớm, tới mức khiến bà không thể bỏ qua được.
Bà ướm lời, “Hay hôm nào đó cô với cháu đi mua sắm nhé? Cháu có thích không?” Cuối cùng thì Poppy cũng nhìn sang bố để chờ sự ưng thuận trước khi quay lại bà Laurel nói, “Cháu thích vô cùng. Cô đi với cháu nhé.”
Bà Laurel đi làm vào hôm sau, thứ Sáu. Bà làm các ngày thứ Hai, Ba và Sáu tại trung tâm mua sắm gần căn hộ bà ở. Công việc của bà có tên là “điều phối tiếp thị”. Đó là một đầu việc ngớ ngẩn, chẳng có tiếng nói gì và với bà chỉ là chút việc địa phương để tiêu tốn vài giờ cũng như kiếm thêm vài đồng mua quần áo hay mấy thứ tương tự. Trình tự công việc của bà là đến chỗ làm, nở nụ cười, gọi điện thoại, viết email và ngồi họp về những chuyện vụn vặt mà bà được trả tiền để giả vờ là mình quan tâm. Sau đó, bà về nhà, quên sạch những thứ đó cho tới khi bước qua cánh cửa chỗ làm trong lần tiếp theo.
Nhưng hôm nay bà vui vì được đến chỗ làm. Bà vui vì được ở cùng những người quen thuộc vốn thích và biết về bà (kể cả khi chỉ là bề ngoài).
Buổi tối hôm trước quả là lạ lùng và lay động. Nó làm bà thao thức nghĩ rằng phải chăng bà đã nằm mơ. Những người khách dự bữa tối khiến căn hộ của bà trở nên lạ lẫm tới nỗi dường như nó không hẳn thuộc về bà. Các miếng đệm ghế sofa bị đảo lộn nhờ nỗ lực “dọn dẹp” của Poppy, thức ăn nằm không đúng chỗ trong tủ lạnh và một đống bát đĩa đã rửa úp trên giá đỡ. Poppy khăng khăng đòi rửa dù bà Laurel ra sức thuyết phục cô bé rằng chỉ cần cho vào máy rửa bát. Chùm hoa lily trên bàn ăn tỏa ra mùi hương chết người lạ lẫm. Chiếc khăn choàng cổ màu xám hiệu Ted Baker mà ông Floyd bỏ quên ở tiền sảnh vẫn treo trên móc như một luồng khói tối màu.
Bà Laurel cảm thấy mừng khi rời khỏi căn hộ, tạm thời tự ngăn cách bản thân với đêm hôm trước một chút. Nhưng ngay cả khi bà bật máy tính, khuấy viên làm ngọt trong ly cà phê hay nghe tin nhắn trong hộp thư thoại thì “nó” vẫn ở đó, như một vọng âm đen tối. Có cái gì đó không đúng. Cần phải làm gì đó với Floyd và Poppy. Bà không thể vùi ý nghĩ này xuống. Poppy rõ ràng là một đứa trẻ lạ lùng, vừa ngây thơ một cách đáng yêu vừa tự tin một cách đáng lo. Con bé thông minh vượt quá độ tuổi song lại chẳng thông minh như nó tưởng.
Và Floyd, người đàn ông gần như hoàn hảo khi ở riêng với bà lại trở nên phức tạp hơn khi ở cạnh con gái. Cuối cùng, bà Laurel cũng hiểu thấu vấn đề khi trò chuyện với người đồng nghiệp Helen.
“Chị biết không,” bà kể về bữa tối, “giống như là chị định đi uống vài ly với người bạn thì bỗng dưng anh ta mang theo bạn gái và chị bị cuốn vào quan hệ tay ba vậy đó.”
Bữa tối đã biến thành “Show diễn của Floyd và Poppy”, trong đó Poppy là ngôi sao và bà Laurel là một khán giả có phần lép vế. Hai cha con ông Floyd có cùng gu hài hước và họ tung hứng với nhau. Ánh mắt của ông Floyd luôn hướng về cô con gái khôn trước tuổi, không hề che giấu sự thích thú và tự hào. Không có mẩu đối thoại nào Poppy không tham gia và cũng chẳng có giây phút nào mà bà Laurel thấy mình quan trọng, đặc biệt hay thú vị hơn cô bé. Khi đóng cánh cửa sau lưng hai bố con lúc nửa đêm, bà thấy kiệt sức và trong chừng mực nào đó là choáng váng.
“Nghe như con bé mắc hội chứng con một điển hình,” bà Helen nhận xét theo hướng thu nhỏ vấn đề xuống mức thường tình. “Vả lại, chị cũng biết là một số ông bố và con gái có kiểu quan hệ như thế mà? Con gái rượu của bố ấy. Những cô con gái cưng như thế thường lớn lên thành kiểu phụ nữ chỉ làm bạn được với đàn ông thôi.”
Bà Laurel gật gù với vẻ cảm kích. Mọi thứ đều hợp lý. Bà từng chứng kiến mối quan hệ gắn bó như thế giữa bố và con gái. Hai cô con gái của bà thì không. Ellie thuộc dạng vừa là con gái cưng của mẹ vừa là con gái rượu của bố, còn Hanna chỉ cư xử theo ý mình. Hơn nữa, sự ngạc nhiên mà bà cảm nhận có thể bắt nguồn từ chính bà chứ không liên quan gì tới bố con ông Floyd. Poppy đùa giỡn một cách vụng về trong khi Floyd là một người cha tuyệt vời, hết lòng quan tâm và yêu thương con.
Cho tới khi rời văn phòng lúc năm giờ rưỡi và ngồi trong xe đậu dưới tầng hầm, bà Laurel đã thông suốt đầu óc và suy nghĩ tích cực.
Bà khao khát được gặp ông Floyd.
Thế là cả cuối tuần tiếp đó bà và ông ta ở bên nhau suốt. Hoàn toàn không có dự tính gì, chỉ là bà không kiếm được cái cớ nào đủ hợp lý để rời khỏi nhà người tình. Tối thứ Sáu họ ra ngoài ăn tối, sáng thứ Bảy nhấm nháp bữa sáng muộn, tiếp đó là đi xem phim với Poppy vào buổi trưa rồi nhân tiện mua đồ lót mới ở Mark & Spencer và mua luôn một bàn chải đánh răng. Họ mua món Hoa mang về để dùng cho bữa tối thứ Bảy và gộp luôn bữa sáng, bữa trưa Chủ nhật trong quán cà phê gần nhà. Phải tới tối, bà Laurel mới ép được mình ra về để chuẩn bị đi làm vào sáng thứ Hai.
Tại nơi làm việc, bà Laurel cảm thấy như mình vừa lột bỏ lớp da và tái sinh. Bà nảy sinh ý muốn đánh dấu sự chuyển tiếp này một cách thật đặc biệt.
Bà gọi điện cho Hanna.
“Con thấy sao…” bà mở đầu ngập ngừng, “nếu mẹ mời bạn trai mới đến tiệc sinh nhật của hai mẹ con mình?”
Đầu dây bên kia im lặng, nặng nề và khó chịu.
Bà Laurel tiếp lời, “Con từ chối cũng không sao đâu. Mẹ hiểu hết mà. Mẹ chỉ nghĩ việc này phù hợp với tinh thần tất cả chúng ta đều tiếp tục sống và mở ra thế giới mới.”
Hanna vẫn im lặng, không khí càng chùng xuống đến mức tối tăm.
“Bạn trai?” Cuối cùng, Hanna phá vỡ sự im lặng. “Mẹ có bạn trai từ bao giờ vậy?”
“Đó là người mà mẹ đã kể với con đó. Ông Floyd.”
“Con biết về ông ta nhưng con không biết ông ta đã trở thành bạn trai của mẹ,” Hanna trả lời.
“À, nếu con chịu trả lời điện thoại thì…”
Hanna thở dài. Bà Laurel cũng thế. Bà chợt nhận ra mình vừa làm điều mà luôn tự nhủ không bao giờ được làm. Khi bọn trẻ còn nhỏ, mẹ bà Laurel thỉnh thoảng lại giám sát con gái bằng cách gọi điện thoại hoặc đến thăm. Điều này khiến bà Laurel phiền lòng. Bà từng thề sẽ không can thiệp vào đời sống con mình khi chúng trưởng thành và sẽ không trông mong gì hơn khả năng của chúng.
“Xin lỗi con. Mẹ không có ý cằn nhằn. Mọi việc xảy ra nhanh quá. Mẹ đã gặp các con của ông ấy và ở lại nhà ông ấy. Bọn mẹ nói chuyện với nhau suốt. Cuối tuần rồi bọn mẹ ở bên nhau. Mẹ chỉ…” Đang nói bỗng bà Laurel nhận ra mình thật ngớ ngẩn. “Nhưng quên chuyện mẹ vừa nói đi. Mẹ chưa mời ông Floyd. Biết đâu ông ta thà tự chặt chân còn hơn đến dự. Con quên hết đi nhé.”
Lại tiếp tục im lặng, lần này nhẹ nhàng hơn. Hanna chốt lại, “Mẹ cứ mời ông ta đi. Con thấy không sao cả. Đằng nào cũng loạn lên cả rồi, đã làm thì chúng ta làm cho tới cùng.”
Ông Floyd đồng ý, dĩ nhiên ông ta đồng ý rồi. Ngay khi bà Laurel về nhà sau lần hẹn thứ hai, ông Floyd đã tỏ rõ rằng ông nghiêm túc với mối quan hệ lãng mạn giữa hai người và tuyệt đối không có chuyện đùa giỡn tình cảm hay mèo vờn chuột.
“Anh rất muốn đi, miễn là gia đình em chấp nhận,” ông nói.
Ông Paul không phản đối. Dù cực kỳ ngạc nhiên song ông thấy không vấn đề gì. Jake phản hồi rằng cậu đồng ý. Không ai tỏ ra quá sốc trước thông tin này, cũng không ai nói đó là một sai lầm.
“Poppy thì sao? Con bé có muốn cùng đi không?” bà Laurel hỏi thêm, trong lòng nửa thầm mong bạn trai sẽ nói “không.”
“Con bé sẽ thích ghê lắm. Nó nói mãi về chuyện muốn gặp các con của em,” ông trả lời.
“Còn có chồng cũ của em và bạn gái của anh ấy nữa.”
“Chà, một đại tiệc!”
Một đại tiệc. Một mớ bòng bong.
Bà Laurel đặt bàn cho tám người tại một nhà hàng ở Islington, một khu vực sầm uất có tiếng nằm gần một con hẻm nhỏ rải sỏi bên ngoài Upper Street.
Bà tự nhủ mình điên rồi, hoàn toàn mất trí rồi.