Chương 25
Tám giờ sáng hôm sau, bà Laurel rời khỏi giường của ông Floyd. Ông ta lẩm bẩm rồi quay qua nhìn đồng hồ báo thức để cạnh giường trước khi thả một cánh tay xuống giường, vờ gầm gừ, “Quay lại đây nào. Hôm nay cuối tuần mà, còn sớm lắm.”
“Em phải về nhà,” bà Laurel vừa nói vừa nắm lấy bàn tay người tình đặt trên tấm trải giường nhăn nhúm.
“Không, em sẽ không về đâu.”
Bà bật cười, “Em về chứ. Em nói anh rồi mà, nhớ không? Hôm nay em ăn trưa ở nhà bạn.”
Ông ta làm bộ thua cuộc, ngả người trở lại gối. “Lợi dụng anh để vui vẻ xong bỏ rơi anh. Mặc kệ em đấy.”
“Em quay lại sau nhé? Chỉ cần trái tim anh vẫn có chỗ cho em sau sự phản bội,” bà đùa lại.
Ông Floyd cuộn tấm thân trần truồng lăn ngang qua giường, túm hai bàn tay bà Laurel cho vào miệng rồi hôn lần lượt các khớp ngón tay. “Anh thực sự rất thích em quay lại. Em biết mà.” Vừa nói ông ta vừa cầm tay bà xoa xoa mảng râu mềm trên má mình. “Anh tiến rất sát tới vùng-không-thể-sống-thiếu-em rồi. Rất gần rồi. Em có thấy cảm động không?”
Những gì ông ta nói gây ngạc nhiên nhưng không phải không thể đoán trước. Dù vậy, bà vẫn phản ứng chậm một nhịp, tạo thành sự im lặng nhỏ nhoi nhưng đáng chú ý.
“Chúa ơi, anh đã làm gì sai à? Có phải anh đã phá vỡ nguyên tắc hẹn hò mà ai đó viết ra ở đâu đó không? Cái điều mà anh không hề biết ấy.”
“Không,” bà Laurel nói và đưa hai tay ông ta lên miệng hôn thật mạnh. “Chỉ là em hay hoài nghi một chút khi dính tới chuyện tình cảm. Em có thể cảm nhận nhưng không bao giờ nói, lại hay cả thèm chóng chán nữa. Em…”
“Kiểu người khó chịu à?”
“Chính xác là vậy. Dù gì đi nữa, anh hoàn toàn được quyền sống mà không có em. Em thấy không có vấn đề gì,” bà cười nhẹ nhõm.
“Vậy chắc anh chỉ cần ở đây kiên nhẫn đợi em quay về và mong rằng lúc đó em cũng không thể sống thiếu anh.”
Bà bật cười, tháo tay mình ra khỏi tay ông ta.
“Thấy chưa, em vừa rút tay ra. Có phải đây là định mệnh của chúng ta? Em rụt tay về, ra tới cửa mà không ngoảnh lại? Em sẽ là người cúp máy trước? Em bỏ anh trước? Em là người nói câu quyết định, còn anh cứ lẽo đẽo bám theo sau?”
“Chắc là vậy đó. Em biết em mà,” bà nói.
“Anh sẽ có điều anh muốn,” ông ta nói rồi lăn ngược trở lại phần giường của mình, đắp tấm chăn lông vịt lên người. “Anh sẽ có điều anh muốn.”
Dưới nhà yên ắng, nắng sáng phủ đầy. Bà Laurel nhìn quanh cửa nhà bếp. Poppy không có bên trong. Bà bước vào, cảm nhận phần gót của chiếc quần bó bám vào mặt sàn mềm. Bà bật nút ấm đun. Bên ngoài cửa sổ nhà bếp là một con mèo đang ngồi trên bức tường trong vườn và quan sát bà. Trên mặt bếp có một ổ bánh mì lớn, đã ăn một nửa. Bà cắt một khoanh rồi tìm bơ trong tủ lạnh. Bên trong tủ lạnh là một góc cuộc sống của ông Floyd và Poppy khi không có bà: ngổn ngang đồ ăn thừa, các hộp thiếc đựng đồ ăn mua về còn dư, các túi đựng thịt lợn muối, phô mai, pa-tê để mở nằm lẫn các hũ yogurt đã mở nắp. Bà lấy bơ ra, phết lớp dày lên bánh mì. Sau đó, bà pha cho mình một cốc trà rồi mang cả trà và bánh ra chiếc bàn cạnh cửa sổ. Một mình ngồi đó, bà ngẫm nghĩ về điều ông Floyd nói. Bà mong muốn điều đó và nửa mong chờ nó xảy ra. Nhưng giờ đây bà thấy lo lắng, hốt hoảng và suy nghĩ quá nhiều.
Bà thắc mắc tại sao ông ta lại cần bà? Ông ta thấy gì khi bước vào quán cà phê hồi tháng trước, ông ta thấy gì mà si mê tới thế? Tại sao ông ta lại không thể sống thiếu bà? Mà cái câu “không thể sống thiếu bà” ấy có nghĩa là gì?
Khi các con bà còn nhỏ, thỉnh thoảng chúng hỏi, “Nếu con chết, mẹ sẽ làm gì?” và bà đáp lại, “Mẹ sẽ chết theo vì mẹ không thể sống thiếu con.” Và rồi con của bà chết, nhưng không hiểu bằng cách nào đó bà có thể sống tiếp được. Hàng trăm ngày sau đó, bà vẫn thức dậy mỗi buổi sáng. Một ngàn ngày sau đó, ba ngàn ngày sau đó, bà sống mà không có con gái bên cạnh.
Thế nên, chắc ông Floyd có ý nói cuộc sống của ông ta sẽ thiếu đi nhiều ý nghĩa nếu không có bà. Nếu quả thực ông ta nghĩ thế thì cũng giống những gì bà cảm nhận. Ông Paul chưa bao giờ nói ra tuyên ngôn tình yêu như thế. Với ông, câu “anh yêu em” giản dị là cách ông đánh dấu tầng sâu cảm xúc của mình. Dù vậy, bà bắt ông đợi chờ nhiều tháng liền trước khi nhận lời.
Bà gạt vụn bánh mì trên đĩa vào thùng rác, đặt ly xuống bồn rửa rồi cầm lấy túi xách và áo khoác. Ở tiền sảnh bà thấy giày của mình: đôi cao gót đi tối qua. Bà xỏ giày vào mà không mong muốn gì hơn một đôi đế bằng. Khi sắp rời đi, bà nhận ra mình đã để quên túi đựng quà sinh nhật trong bếp: sách ông Paul tặng, dây chuyền của Jake và Blue cùng lọ nước hoa đúng mùi bà ưa thích của Hanna. Lúc trở lại tiền sảnh, bà thấy có người đứng ngoài cửa trước, sau đó là tiếng kim loại va loảng xoảng vì người đó cố nhét một bó thư vào hộp thư. Số thư này rơi xuống thảm lót chân, bà nhặt chúng để lên tủ ở tiền sảnh. Đúng lúc xoay người đi ra, bà chợt chú ý đến lá thư nằm trên cùng - một phong bì dày màu trắng cỡ A4, trông giống thư từ hành chính, có thể là về tài chính.
“Cô Noelle Donnelly.”
Cái tên nằm trên bì thư nghe rất quen thuộc.
Mới đầu, bà thắc mắc tại sao thư đề tên một người hoàn toàn xa lạ lại được gửi đến đây. Rồi bà chợt vỡ ra. Phải rồi, Noelle Donnelly chắc chắn là mẹ của Poppy.
Ra đến cửa trước của khu vườn, bà nhìn lên và thấy ông Floyd đứng gần cửa sổ phòng ngủ, miệng ông ta trễ xuống ra vẻ buồn bã còn hai tay tì vào cửa kính. Bà mỉm cười, vẫy tay, người tình của bà cũng cười, vẫy lại và tặng bà một nụ hôn gió kèm hình trái tim vẽ bằng hơi thở ông ta trên ô kính.
Bà thầm nghĩ ông Paul đã đúng, bà có quyền được hạnh phúc. Nhưng bà phải làm sao để tin điều đó đây?
Nhiều quà sinh nhật hơn dành cho bà Laurel ở nhà hai người bạn Jackie và Bel ngày hôm đó. Cặp sinh đôi làm cho bà một hộp kẹo chocolate, trong đó có vài cái ra dáng kẹo chocolate thật. Jackie và Bel mua cho bà phiếu quà tặng của spa Hadley Wood. Họ còn làm bánh tặng bà, chiếc bánh đầu tiên cho sinh nhật bà - đúng loại ga-tô Victoria bà thích. Bà thổi nến rồi cười ngắm hai cậu bé hát chúc mừng sinh nhật. Trong lúc nhấm nháp ly sâm panh, bà kể cho hai người bạn tất cả diễn biến của tối hôm trước. Tỏ ra rất hứng thú, họ khen ngoại hình của bà tươi tắn, tóc bà bóng sáng, hai mắt lấp lánh, tóm lại là chưa bao giờ đẹp như thế. Họ cũng ngỏ ý mời bà, ông Floyd, và có thể thêm Poppy, đến ăn trưa vào tuần sau. Theo lời Jackie và Bel, họ hết sức mong đợi được gặp người đàn ông đã rọi ánh sáng trở lại thế giới của bạn họ.
Suốt cuộc gặp, bà Laurel vừa cảm thấy đây là một thứ Bảy bình thường ở nhà Jackie và Bel vừa cảm thấy không phải. Bởi lần đầu tiên trong nhiều năm qua, có một nguồn năng lượng ở đâu đó bên ngoài cơ thể bà, nguồn năng lượng thuộc về bà nhưng cũng chưa hoàn toàn là của bà. Nó réo gọi, lôi kéo bà, khiến bà thay vì nấn ná sau giờ ăn bánh uống trà như thường lệ lại nôn nao đặt sẵn tay lên túi xách vào lúc năm giờ. Cũng vì nguồn năng lượng đó mà câu cảm ơn và tạm biệt chực chờ ra khỏi miệng bà chứ không còn cố tìm cớ ở lại với những người bạn thân nhất.
Khi hai người siết chặt tay bà ở tiền sảnh, cả ba cùng nhận ra sự thay đổi - như họ từng thay đổi khi Jackie và Bel nói với bà Laurel rằng họ thành đôi, khi Ellie mất tích, khi hai nhóc sinh đôi chào đời và khi ông Paul ra đi. Cùng với dòng đời đưa đẩy, nhu cầu và các mối ưu tiên lại xáo trộn trật tự cuộc sống. Và bà Laurel biết bà sẽ không còn cần những ngày thứ Bảy nhiều như trước nữa.
Bà ngồi vào xe, lái hết tốc lực trở lại nhà ông Floyd.
Lá thư vẫn nằm trên đầu tủ khi bà vào nhà, nhưng ai đó đã gạch dòng địa chỉ và viết đè lên “Trả lại người gửi/Không biết người có trên tại địa chỉ này.”
Cái tên đó lại vang vọng trong đầu bà. Noelle Donnelly. Noelle Donnelly. Từ đâu mà bà biết cái tên này nhỉ?
“Bữa trưa của em thế nào,” ông Floyd hỏi.
“Rất tuyệt. Nhìn này,” bà cho ông xem hộp chocolate tự làm, “hai cậu nhóc làm cho em đấy. Ngọt ngào không nào? À, bạn em mời chúng ta tới nhà vào cuối tuần sau. Anh muốn đi không?”
“Có chứ, anh thích lắm,” ông ta trả lời trong lúc treo áo khoác và khăn choàng cho bà.
Poppy ùa xuống cầu thang khi nghe tiếng bà Laurel và vòng tay ôm lấy bà.
“Ôi, đáng yêu quá,” bà Laurel thốt lên.
“Sáng nay cháu không gặp được cô. Cháu tưởng mình sẽ gặp chứ,” cô bé nói.
“Xin lỗi cháu. Cô phải vội về nhà để kịp bữa ăn trưa,” bà Laurel trả lời.
Trong nhà bếp, ông Floyd đã mở một chai rượu và rót cho bà Laurel một ly lớn, đặt sẵn trên quầy. Bà thả người xuống ghế, làm như vô tình nói, “Hay thật. Hình như em biết ai đã từng sống trong ngôi nhà này rồi.”
Ông Floyd đặt chai rượu vào tủ lạnh trở lại, quay sang bà và nhướng lông mày, “Thế à?”
“Đúng vậy. Có một lá thư trên tủ của anh, gửi cho Noelle Donnelly. Em chịu không nhớ vì sao em biết cái tên này, nhưng đúng là em biết. Em nghĩ…” bà cẩn thận dò ý. “Trong một thoáng em nghĩ đó có thể là mẹ của Poppy.”
Ông Floyd bất động. Sau một phút, ông ta quay về phía tủ lạnh và nói, “Thực ra thì đúng đấy.”
Bà Laurel chớp mắt. Bà còn nhớ Poppy tả mẹ mình như sau: tóc đỏ và bốc mùi dầu mỡ. “Cô ấy là người Ireland à?” Bà hỏi.
“Ừ, Noelle là người Ireland.”
Bà Laurel nhìn chằm chằm vào những vệt sáng phản chiếu ánh đèn halogen sóng sánh trên bề mặt lớp rượu. Trong lòng bà có cái gì đó quặn lên. Cái tên ấy, màu tóc ấy và chất giọng Ireland - bà biết người phụ nữ này. Bà biết cô ta.
“Cô ấy có đứa con nào khác không? Lớn hơn Poppy ấy?” Bà hỏi, trong đầu nghĩ biết đâu cô ta sinh con khi còn đi học.
“Không. Chỉ Poppy thôi.”
“Cô ấy làm việc gần đây à? Làm việc tại địa phương ấy?”
“Đại khái thế. Cô ta làm gia sư dạy toán. Anh nghĩ cô ta dạy cho nhiều đứa trẻ sống quanh đây.”
“À, dĩ nhiên. Chính thế. Chắc chắn cô ấy đã dạy Ellie một thời gian. Cũng ngắn thôi, ngay trước khi….” Giọng bà nhỏ dần.
“Thật là trùng hợp. Nghĩ tới việc cuộc đời của chúng ta đã tiệm cận nhau tới mức giao cắt mà xem, chỉ cách nhau chút xíu.”
“Đúng vậy. Sao mà trùng hợp quá!” Bà Laurel siết chặt ly rượu trong tay.
Bà kể cho Hanna nghe khi gọi điện cho cô vào thứ Hai. “Con nhớ lúc Ellie học gia sư đó không, đúng vào năm con bé mất tích?”
Hanna đáp: “Con không nhớ.”
“Sao lại không nhớ được? Cô ta người Ireland, cao, tóc đỏ. Cô ta hay tới dạy vào trưa thứ Ba hằng tuần.”
“Chắc vậy.”
Laurel nghe thấy tiếng Hanna gõ máy tính trong lúc nói chuyện. Bà nuốt cảm giác bực mình xuống, nói tiếp, “Có chuyện này kỳ quái lắm. Hoá ra cô ta chính là mẹ của Poppy.”
“Ai cơ?”
“Cô gia sư dạy toán ấy.”
Hanna im lặng một chút rồi thốt lên, “A, con nhớ ra cô ta rồi, Ellie ghét cô ta.”
Bà Laurel cười bồn chồn, “Ellie đâu có ghét cô ta. Con bé nghĩ cô ta tuyệt, là cứu tinh của nó mà.”
“Những gì con biết thì không phải vậy. Ellie nói với con là cô ta kỳ quái và làm nó sợ. Đó là lý do con bé nghỉ học,” Hanna nói.
“Nhưng mà…” bà Laurel ngập ngừng, cố sắp xếp lại ký ức của mình. “Con bé không nói với mẹ như vậy. Con bé nói nó cần thêm thời gian để học các môn khác. Hình như là vậy.”
“Còn nó nói với con là nó không thích cô ta và cô ta là người quái đản.” Giọng Hanna có chút gì đó đắc thắng. Hồi đó, cô và bà Laurel luôn cạnh tranh sự chú ý của Ellie.
“Dù sao thì chuyện này không phải lạ quá sao? Thế giới nhỏ quá!”
Bà Laurel tiếp tục câu chuyện bằng những nhận xét sáo rỗng nhưng trong lòng cồn cào nỗi bất an. Kể từ khi phát hiện Noelle Donnelly là mẹ của Poppy, bà Laurel nhớ ra ngày càng nhiều chuyện về cô ta, từ cái lưng hơi gù, chiếc áo khoác chống thấm bốc mùi mốc meo và đôi giày đế cao su thông dụng thường chà xát vào sàn nhà ở tiền sảnh đến điệu bộ vội vàng, khẩn trương, mái tóc đỏ không chải mà chỉ cào ngược ra sau bằng kẹp tóc. Bà không thể ghép người phụ nữ đó đứng gần Floyd. Tuy ông ta không hẳn đẹp trai theo chuẩn truyền thống nhưng cũng là người chỉn chu và sành điệu, sạch sẽ và thơm tho. Làm sao họ đến được với nhau nhỉ? Họ gặp nhau thế nào, tiến tới ra sao? Và quan trọng hơn, lý do gì đưa đẩy họ cùng nhau sinh con?
Nhưng bà không nói gì với Hanna về những thắc mắc đó. Bà thở dài. Bà lại suy nghĩ quá nhiều như mọi khi. Khi đã hạ nhiệt, bà hỏi Hanna, “Tối thứ Sáu vừa rồi con thấy thế nào? Có vui không?”
“Vâng, tốt mẹ ạ. Thực ra là vui, chỉ cần ở bên nhau như thế. Cảm ơn mẹ.”
“Vì cái gì?”
“Vì đã tổ chức cuộc gặp đó, vì đã gợi ý, vì đã là người đầu tiên trong gia đình này can đảm làm thế kể từ khi Ellie mất tích.”
“Ôi,” bà Laurel dịu giọng. “Cảm ơn con. Nhưng mẹ nghĩ ông Floyd mới là người cần được cảm ơn. Ông ta đã cho mẹ dũng khí và đã thay đổi mẹ.”
“Không. Mẹ đã thay đổi con. Lẽ ra mẹ có thể đi chơi riêng với ông ta. Con thực sự thấy vui cho mẹ. Thực sự mẹ ạ, mẹ xứng đáng được như thế.”
“Con thích ông ta không Hans?”
“Ông Floyd à?”
“Ừ.”
“Có, ông ta có vẻ được đấy.”
Câu ấy, nếu nói ra từ miệng Hanna, là một lời khen.