Chương 32
Từ King’s Cross, bà Laurel lái xe thẳng tới căn hộ của Hanna và lau dọn kỹ càng hơn bất cứ lần nào trước đây. Khi không còn gì để lau chùi, bà bước ra khu vườn dễ sợ đằng sau nhà Hanna. Ở đó bốc lên mùi mục ruỗng tích tụ từ nhiều mùa Hè chán ngán. Với kéo tỉa cây trong tay, bà cắt phăng mọi thứ, dọn sạch sẽ những thân cây khô đen, bùn đất và cả cái lò nướng rỉ sét mà Hanna chưa bao giờ dùng đến. Bà không đeo bao tay nên khi xong việc, hai bàn tay bà trầy xước, tứa máu. Nhưng bà không quan tâm. Bà xoa một chút kem dưỡng da tay của Hanna, nghe bàn tay ran rát khi kem dưỡng thấm vào da thịt.
Không có bó hoa nào trong nhà Hanna hôm nay. Nhưng thật lòng, bà Laurel không còn quan tâm tới tình yêu bí mật của con gái nữa.
Cứ để con bé yêu đương bí mật. Muốn bạn gái cũng được, bạn trai cũng xong, muốn chăm sóc một cô, hai cô và một con chó thì tùy. Cứ để con bé muốn sao cũng được. Hanna sẽ nói khi nó sẵn sàng.
Tất cả những gì hôm qua còn quan trọng thì hôm nay không còn nghĩa lý gì. Với bà Laurel bây giờ, điều bận tâm duy nhất là khơi thông được nút thắt khổng lồ của lượng thông tin mới đang án ngữ tâm trí bà. Tất cả đan xen vào nhau và bà chắc chắn chúng ẩn chứa điều gì đó, nhưng hiện chúng vẫn quá kỳ bí và bấp bênh nên bà không biết phải bắt đầu từ đâu.
Bà nhét ba mươi bảng của Hanna vào ví, khóa cửa rồi leo lên xe lái về nhà thật nhanh.
Gõ tên Noelle Donnelly vào Google không mang lại nhiều kết quả. Trên đời này có nhiều Noelle Donnelly một cách đáng ngạc nhiên và bà Laurel đoán chắc nếu Noelle cố tình biến mất rồi sau đó xuất hiện trở lại với tư cách một nhà vật lý trị liệu ở Chicago thì cô ta cũng không hét toáng lên trên mạng cho cả thế giới biết. Bà Laurel gõ từ khóa khác, Noelle Donnelly gia sư dạy toán. Nhiều manh mối hơn, cái tên đó nằm trong một số danh sách trên các trang về gia sư như FindMyTutor.com và MyPerfectTutor.com. Nhưng những danh sách này đều đã cũ và không có cập nhật mới. Bà thử Noelle Donnelly Ireland. Người mang đặc điểm này thì nhiều nhưng không có ai là Noelle mà bà tìm kiếm.
Cuối cùng bà gõ Noelle Donnelly biến mất. Nửa tiếng sau bà kết luận thế giới này không màng bận tâm đến sự biến mất của Noelle Donnelly. Dường như không ai để ý.
Chẳng có gì cả.
Bà tắt laptop và gãi cổ tay. Bà cố nhớ lại người đầu tiên đã giới thiệu Noelle cho bà. Đó là một người hàng xóm. Bà có thể mường tượng ra khuôn mặt bà ta, hình ảnh bà ta dắt hai con chó lông xù Ireland đi dạo. Lũ chó cứ nhảy xổ vào người chủ, in mấy dấu chân lấm lem bùn đất lên quần jean của bà ta. Thế nhưng, bà chịu không nhớ ra tên bà hàng xóm ấy. Bà liền đi vào căn phòng để trống, kéo từ trong tủ quần áo ra một chiếc hộp chứa những thứ mang đi từ nhà cũ (nhưng tới giờ bà chưa mở ra lần nào). Bà hy vọng trong hộp có quyển sổ ghi địa chỉ cũ của bà. Hồi trước, ai cũng có sổ địa chỉ để ghi lại số điện thoại của người quen thay vì gõ thẳng vào điện thoại như bây giờ. Bà tìm ở nửa sau sổ, vừa lật giở các trang vừa thoáng giật mình trước số lượng người bà từng quen biết nhưng nay không mảy may nghĩ tới.
Bà hàng xóm đó tên Susie, hoặc Sally, Sandy gì đó. Bà lật càng lúc càng nhanh trước khi bất thình lình dừng lại. Một miếng giấy dán màu hồng được dính ở trang S, trên đó là nét chữ viết vội nguệch ngoạc của bà. Bà viết Noelle Donnelly kèm theo một số điện thoại. Bà chợt nhớ lại. Chính bà đã gọi cho người hàng xóm tên Sally, đúng là Sally, vào một buổi sáng và nói: “Ellie đang cần một gia sư. Chị biết một người giỏi phải không? Chị có số điện thoại của người ta không?”
Rồi bà vội vàng ghi lại số, xé miếng giấy ra và dán vào sổ điện thoại. “Cảm ơn nhé Sal, chị đúng là ngôi sao. Hẹn gặp lại sau!” Trong điện thoại còn văng vẳng tiếng sủa của chó nhà bà Sally.
Bà gọi số điện thoại vừa tìm được. Đáng ngạc nhiên là có người nghe máy, một chàng trai trẻ với chất giọng Ireland.
Bà Laurel lên tiếng: “Xin chào, xin lỗi vì làm phiền nhưng tôi đang tìm người từng sử dụng số điện thoại này. Cô Noelle Donnelly ấy?”
“À vâng, đúng rồi. Cô Noelle là cô của tôi nhưng bây giờ không ai biết cô ấy ở đâu,” chàng trai trẻ đáp lại.
Bà Laurel nghẹn lời mất một giây. Bà cứ tưởng phải nghe câu trả lời vô giá trị. Bà tưởng người nghe máy không hề biết tới cái tên Noelle Donnelly. Nhưng bà đã gặp được một người họ hàng.
Bà nói tiếp: “Tôi nghe nói cô ấy đã biến mất phải không?”
“Vâng, ai cũng nói thế.”
“À, tôi…” bà Laurel mở lời, “Tôi rất thân thiết với con gái của cô Noelle, và bạn trai cũ của cô ấy. Và…” Bà phải nói thế nào đây? “Có nhiều điều tôi đang muốn biết về sự ra đi của cô ấy. Tôi có thể đến gặp cậu không?”
“Cô là ai? Cô vừa nói gì?”
“Tôi là bạn của Poppy.”
“À, con gái của cô Noelle. Bà tôi thỉnh thoảng có nhắc tới con bé.”
Im lặng một chút và bà Laurel tự hỏi liệu cậu ta có nghe lời đề nghị đến gặp của bà không. Đúng lúc đó, cậu thanh niên tiếp tục, “Cô cứ đến đi, không có vấn đề gì. Số mười hai đường Harlow nhé, vừa hết đường Stroud Green.”
“Bây giờ được không? Tôi đến ngay nhé?” Bà hỏi lại.
“Được thôi. Nhân tiện, tôi tên Joshua, Joshua Donnelly.”
“Còn tôi là Laurel Mack. Khoảng nửa tiếng nữa tôi có mặt.”
Harlow là một đường nhánh của con đường lớn. Đoạn đường này quá quen thuộc với bà Laurel sau khi bà xem đi xem lại đoạn video an ninh chiếu ngày Ellie mất tích trên các bản tin. Con đường này nằm ngay đối diện chỗ đậu của chiếc xe mà Ellie đã soi mình vào kính xe. Nhà số mười hai nằm gần ngã rẽ. Đó là một căn nhà nhỏ xíu, nằm cùng dãy với những ngôi nhà tí hon khác. Trong mảnh vườn trước nhà trồng một cây anh đào nhỏ. Trông căn nhà xập xệ tới nỗi tưởng bên trong không có ai ở.
Joshua Donelly mở rộng cửa và tránh sang một bên. “Mời vào, cô Laura.”
“Laurel,” bà sửa lại, “vòng nguyệt quế ấy.”
“À, vòng nguyệt quế,” Joshua đóng cánh cửa sau lưng bà. Cậu thanh niên này nhỏ người và nhanh nhẹn, mặc quần thể thao rộng thùng thình và áo bóng đá màu đỏ trắng. Mái tóc Joshua cắt rất ngắn, có thêm một đường cạo nhỏ gần ngôi tóc.
Cậu ta có khuôn mặt lôi cuốn, có thể nói là đẹp, với hàng mi rất dài.
“Cô đừng để ý đến hiện trạng của ngôi nhà nhé,” Joshua nói khi dẫn bà vào một căn phòng bé tí ở phía trước. “Chỉ có tôi và anh trai ở đây, chúng tôi không ở nhà nhiều lắm.”
Trong phòng có hai chiếc ghế sofa bằng da màu nâu và rất nhiều nội thất bằng gỗ thông được đánh vec-ni. Trên tường treo nhiều bản in đóng khung về nghệ thuật hiện đại. Quần áo được phơi gần cửa sau và trên lưng ghế. Ly tách để đây một cái kia một cái, thêm mấy chồng giấy tờ có vẻ là đồ án đại học. Nhưng nhìn chung không đến nỗi nào.
“Vậy cậu là con trai của…?”
“Của em trai cô Noelle. Cô ấy có bốn anh em trai và một em gái đã chết khi còn nhỏ. Chúa mới biết chuyện gì đã xảy ra với cô Noelle.” Cậu ta lấy mấy quyển sách giáo khoa ra khỏi sofa, dùng tay phủi các mảnh vụn xuống sàn rồi ra hiệu mời bà Laurel ngồi xuống. “Cô muốn uống gì không? Trà hay coca?” Bà Laurel vừa ngồi xuống vừa từ chối, “Thôi, thôi, không cần đâu. Cảm ơn cậu.”
“Cô không uống gì à? Không phiền hà gì đâu.”
“Tôi không uống thật mà. Cảm ơn cậu.”
Joshua dọn chỗ cho mình ở chiếc sofa còn lại rồi ngồi xuống, hai đầu gối mở rộng, một chân nhịp lên xuống.
“Cậu thừa kế nơi này của cô Noelle?” bà Laurel hỏi.
“À, thừa kế thì không hẳn. Có thể xem là gia đình tôi trưng thu, cô hiểu không? Ngôi nhà giống như khách sạn nhỏ của chúng tôi, bất cứ ai trong gia đình cần chỗ trú ngụ ở London đều có thể đến đây. Hiện thời, nó là chỗ của tôi và anh trai, Sammy.”
“Cậu ở đây bao lâu rồi?”
“Từ tháng Mười. Tôi mới bắt đầu nhập học ở đại học Goldsmiths và sẽ ở đây thêm vài năm nữa. Trước tôi có nhiều người khác ở nhà này rồi. Tôi có tới mười hai anh chị em họ mà. Nhưng chúng tôi không được phép dịch chuyển hay đụng vào bất cứ thứ gì. Cô hiểu ý tôi không? Chúng tôi phải giữ căn nhà nguyên trạng như khi cô ấy bỏ đi, không thêm không bớt.”
“Để phòng khi cô ấy quay lại?”
“Đúng rồi, chính xác, để phòng khi cô ấy quay lại.”
“Cậu nghĩ tới khả năng đó không?”
“À, vấn đề là ở chỗ đó,” Joshua nhún vai. “Tôi chưa từng gặp cô ấy, thật ra là tất cả anh em chúng tôi đều chưa gặp. Cô ấy giống như một thành viên ma trong nhà vậy. Chúng tôi được nghe kể nhiều chuyện về cô ấy, như cô tự mua một căn nhà, cô qua lại với một tác giả nổi tiếng, rồi cô mang thai. Nhưng chúng tôi chưa bao giờ gặp cô ấy. Nghe có buồn cười không?”
Cậu ta chớp mắt nhìn bà, miệng cười lớn. Bà Laurel đồng ý: “Đúng, thật là kỳ quặc.”
Bà nhìn quanh phòng rồi dừng mắt ở các kệ đầy sách và những bức vẽ treo trên tường đang ánh lên dưới nắng. “Vậy tất cả những thứ này, đồ gỗ, sách vở đều là của cô Noelle?” bà Laurel hỏi.
“Vâng, tất cả, bao gồm trên tầng nữa, các tủ áo, toàn bộ quần áo của cô ấy đều ở đó. Tôi nói nghiêm túc đấy. Mọi thứ đều còn nguyên, kể cả đồ lót và mấy món linh tinh.”
“Chưa từng có ai thu dọn bất cứ thứ gì ư? Tất cả đều giữ nguyên sau khi cô ấy bỏ đi?”
“Vâng, hầu như là vậy.”
Trong người bà Laurel sục sôi niềm thôi thúc chạy ngay lên tầng và lục tung mọi thứ, dốc ngược các ngăn kéo và tìm kiếm mớ giấy tờ. Để làm gì? Bà tự hỏi. Bà nghĩ bà sẽ tìm thấy gì chứ?
Thay vào đó, bà hỏi tiếp: “Cậu nghĩ chuyện gì đã xảy ra với cô của cậu?
“Tôi hoàn toàn không có một manh mối nào. Tôi nghe kể là lúc ấy, cô Noelle định quay về Irealand. Cô ấy đem theo hộ chiếu, các loại thẻ và xếp đồ đạc vào túi, kèm theo vài tấm hình. Rõ ràng cô ấy định đi đâu đó. Nhưng hình như cô ấy không hề tới nơi mà cô ấy dự định, bởi lẽ hộ chiếu của cô ấy chưa từng được sử dụng. Cô ấy cũng không dùng thẻ rút tiền trong nhiều năm.” Joshua giơ hai bàn tay lên trước khi đặt xuống đầu gối: “Hết sức lạ lùng.”
“Cậu biết không,” bà Laurel nhẹ nhàng nói, “con gái tôi đã mất tích.”
“Ồ, sao cơ?” Joshua ngồi thẳng lên, lộ rõ vẻ tò mò.
“Con gái tôi mất tích vào năm 2005. Nơi cuối cùng mà người thấy con tôi còn sống là ở kia,” bà chỉ tay về phía đường Stroud Green. “Ngay đằng kia, đối diện cửa hàng của Hội Chữ thập đỏ. Camera giám sát đã ghi lại được.”
Joshua nheo mắt nhìn bà và cả hai ngồi lặng im trong chốc lát.
Bà Laurel cân nhắc mình nên gây sức ép với cậu thanh niên dễ thương này tới chừng nào để cậu không trở nên dè dặt.
“Cậu đã gặp em họ Poppy bao giờ chưa?”
“Chưa ai trong chúng tôi gặp cả. Cô bé là họ hàng duy nhất mà chúng tôi chưa gặp. Thật không hay tí nào bởi tôi có một em họ nữa cỡ tuổi Poppy. Đó là Clara và con bé rất khôi hài. Hai đứa có thể làm bạn lắm chứ nhưng cái ông tác giả đó…”
“Ông Floyd?”
“Đúng, chính ông ta. Ông ta rất khép kín và cứ giữ riết cô bé quanh quẩn trong nhà. Chúng tôi đề nghị được phụ giúp chăm sóc Poppy nhưng ông ta không đếm xỉa. Khoảng một năm sau khi cô Noelle biến mất, một người chú của tôi đã tới đó cố làm quen…” Joshua lắc đầu nói tiếp: “Nhưng ông ta phản ứng rất dữ dội, nói thẳng thừng là chúng tôi không được chào đón.”
Bà Laurel nghĩ trong đầu rằng không biết Poppy có biết về gia đình Ireland của mình hay không.
Joshua hỏi lại, “Làm sao bà biết Poppy và ông Floyd?”
“À, tôi đang có quan hệ tình cảm với ông Floyd, thực ra ông ấy là bạn trai của tôi.”
Joshua nhướng mày, “Ồ, ra thế.”
“Lạ lùng hơn nữa là cô Noelle từng làm gia sư cho Ellie con gái tôi. Cô ấy dạy con bé trong vài tuần trước khi nó mất tích.”
“Gì cơ? Ở đây à?” Joshua chỉ xuống sàn nhà.
“Không, cô ấy tới nhà tôi, cách đây khoảng nửa dặm.”
“Tôi hiểu rồi.”
Bà Laurel nhìn Joshua, chờ đợi cậu gợi ra một manh mối để tháo tung nút thắt của mớ bòng bong trong đầu bà.
Cuối cùng, Joshua lên tiếng: “Ý cô là đã có điều gì đó không hay xảy ra? Cô định nói thế đúng không?”
“Tôi không biết, tôi thật sự không biết.”
“Tôi phải thừa nhận là chuyện này nghe hơi lạ.” Joshua tì cùi chỏ lên đầu gối, mắt nhìn đăm đăm xuống sàn nhà một lúc. “Cô đợi tôi suy nghĩ một chút nhé.” Cậu ta xoa xoa thái dương bằng ngón tay. “Cô có một bí ẩn, tôi cũng có một bí ẩn và cô nghĩ hai bí ẩn này có thể liên hệ với nhau?”
“Cậu có bao giờ xem qua đồ đạc của cô Noelle chưa? Những đồ riêng tư như nhật ký ấy?”
“Chưa bao giờ. Nhưng có chuyện này…” cậu ta dừng lại.
“Có một chuyện rất kỳ lạ và tới giờ chúng tôi vẫn chưa hiểu nó là gì,” Joshua vừa nói vừa nhìn ra hướng cửa rồi quay lại. Cậu ta thở dài, “Tôi dẫn cô đi xem nhé?”
“Gì cơ?”
“Cô phải tin tôi, bởi vì tôi là một người lạ với cô và biết đâu tôi là người xấu.”
“Ý cậu là gì?”
“Chuyện đó xảy ra dưới tầng hầm.”
“Chuyện gì?”
“Chuyện kỳ lạ mà chúng tôi phát hiện, ở dưới tầng hầm.”
Bà Laurel thấy tim mình đập dồn dập. Bà nhìn cậu trai có khuôn mặt khôi ngô ngồi đối diện.
“Tôi hoàn toàn hiểu nếu cô không muốn xuống tầng hầm. Nếu tôi là cô thì cũng không làm thế. Chắc do tôi xem phim kinh dị nhiều quá, mấy bộ phim hay có tình tiết đừng đi xuống tầng hầm, đồ ngu ngốc chết tiệt!”
Joshua mỉm cười. Nhìn cậu ta vẫn cứ là cậu thanh niên dễ thương từ Ireland đến để học đại học. “Tôi có thể tả lại nếu cô muốn. Hoặc tôi xuống hầm chụp hình rồi đem cho cô xem. Cô thích cách nào hơn?”
Bà cười, “Không sao, tôi sẽ xuống hầm xem sao.”
“Cô nhắn tin cho ai đó đi, nói với họ cô đang ở đâu. Nếu là tôi, tôi sẽ làm thế,” Joshua vẫn nhìn bà vẻ lo âu.
Bà Laurel bật cười, “Cứ dẫn tôi đi xem nào.”
Cánh cửa dẫn xuống tầng hầm nằm trong nhà bếp. Joshua mở một ngăn kéo lấy đèn pin rồi dẫn bà Laurel xuống các bậc thang bằng gỗ. Cuối cầu thang lại có một cánh cửa. Joshua đẩy cửa, mở ra một căn phòng nhỏ hình vuông, được ốp hoàn toàn bằng gỗ thông đánh vec-ni như trong phòng khách và nhà bếp. Phía cao trên tường là một cửa sổ nhỏ, lấp ló bên ngoài là những cành anh đào ở sân trước. Trong phòng có một ghế sofa nhỏ có thể kéo ra thành giường, một chiếc tivi và một cái ghế. Trên chiếc bàn kê sát bức tường trong cùng có một chồng cao những thứ giống như lồng nuôi chuột hamster. Joshua quét đèn pin dọc đống lồng. “Hình như có khoảng hai mươi con hamster trong số lồng kia khi các chú tôi đến đây. Tất cả đều chết, nằm ngửa ra và chân giơ lên không,” cậu ta diễn lại điệu bộ đó. “Rõ ràng một vài con đã ăn thịt lẫn nhau. Chúng tôi không tài nào hiểu được. Chúng tôi nghĩ tới giả thiết cô ấy nhân giống chúng để đem bán cho bọn trẻ con. Nhưng chúng tôi không tìm ra chứng cứ nào chứng minh giả thiết ấy. Không hiểu được, tại sao lại có cả đống chuột trong tầng hầm và sau đó để chúng chết chỏng chơ?”
Bà Laurel nhìn đống lồng và rùng mình. Bà nhìn quanh phòng một lần nữa. Dù căn phòng được ốp gỗ màu mật ong nhưng vẫn toát lên vẻ trống trải và lạnh lẽo. Chưa hết, bầu không khí trong phòng còn tồn tại một thứ gì đó gây cảm giác ớn lạnh và sợ hãi.
“Cậu nghĩ căn phòng này được dùng để làm gì?” Hỏi xong, bà xoay người lại kiểm tra các ổ khóa trên cửa - tổng cộng ba cái, tiếp đó nhìn lên ô cửa sổ trên cao, các nhánh cây trơ trụi, chiếc sofa giường và tivi.
“Tôi đoán là phòng cho khách.”
“Trông không được ấm cúng lắm nhỉ?”
“Tôi nghĩ là cô ấy không có nhiều khách khứa. Từ những gì tôi được biết thì cô ấy hơi khó gần.”
“Vậy tại sao cô ấy lại đặt sofa giường tít dưới đây? Tivi nữa? Và tất cả bọn chuột mà cô ấy để mặc cho chết?”
“Tôi nói cô rồi mà, chuyện này rất kỳ quặc. Thật lòng mà nói, tôi nghĩ mọi khía cạnh của cô Noelle đều không bình thường. Chúng tôi cho là việc mất đi em gái khi còn quá nhỏ đã hủy hoại cô ấy.”
Bà Laurel lại rùng mình. Bà nghĩ tới cảnh Hanna mất Ellie. Trong đầu bà hiện ra căn hộ u tối, vô hồn của Hanna. Con gái bà không biết đùa, đến những cái ôm của Hanna cũng lúng túng, ngượng nghịu. Bà bỗng thấy hoảng loạn khi nghĩ đến khả năng con gái bà cũng rơi vào tình cảnh như Noelle Donnelly, cất giấu một lũ hamster rồi biến mất dạng, để lại sau lưng không gì ngoài bóng tối bao phủ. Trong lúc tâm trí xoay mòng mòng, bà chợt bắt gặp vật gì đó nhô lên khỏi chiếc sofa giường. Vật đó nhỏ và có vẻ bằng nhựa. Bà cúi xuống nhặt nó lên. Đó là một thỏi son dưỡng môi đặt trong lớp vỏ màu hồng nhạt và xanh lá, hương dưa hấu.
Bà nắm nó vào lòng bàn tay rồi nhét vào túi. Chẳng hiểu sao bà cảm thấy vật đó thuộc về mình.
Đôi tay bà Laurel run lên khi bà lái xe về nhà. Bà vẫn ngửi thấy cái mùi của căn hầm nhà Noelle Donnelly, mùi gỗ ẩm thấp, mùi thảm mục nát. Mỗi khi nhắm mắt lại, bà thấy hiện ra chiếc sofa giường xấu xí, đống lồng chuột hamster và ô cửa sổ dơ dáy trên tường.
Ngay khi về nhà, bà vào căn phòng để trống, kéo chiếc hộp của Ellie ra khỏi gầm giường. Bà xới tung bút viết, huy hiệu, nhẫn và kẹp tóc. Bàn chải đánh răng của Ellie vẫn trong hộp, ngoài ra còn có lược chải tóc cùng mấy sợi thun buộc tóc, móc khóa và kem dưỡng da mặt. Giữa đống đồ ấy, bà nhìn thấy một bộ son dưỡng môi. Có ba cái, một là hương đu đủ, một hương xoài và cái còn lại hương dưa bở ruột xanh. Bà Laurel lấy thỏi son hương dưa hấu trong túi áo khoác ra, so với ba chiếc kia. Chúng thuộc cùng một bộ.