Chương 4
Cuộc sống của bà Laurel mười năm trước như thế nào nhỉ, khi bà hãy còn ba đứa con chứ không phải hai như bây giờ? Có phải là sáng nào bà cũng tỉnh dậy tràn trề sinh khí? Câu trả lời là không. Laurel thuộc típ người bi quan. Ngay trong những lúc dễ chịu nhất, bà cũng có cả đống thứ để than phiền. Tin vui với bà chỉ tồn tại ngắn ngủi và nhanh chóng bị xóa tan bởi những mối bận tâm mới. Vậy đấy, bà thức dậy mỗi sáng với niềm tin sắt đá rằng mình ngủ chẳng ngon lành gì (dù thực tế ngược lại đi nữa), rồi bà lo tới những chuyện như mập bụng, tóc dài quá (hoặc ngắn quá), nhà to quá (hoặc nhỏ quá), tài khoản ngân hàng rỗng tuếch, người chồng quá lười biếng, con cái quá ồn ào (hoặc không thèm hé răng). Chuyện con cái sẽ rời nhà, hoặc ở lì không thèm đi, dĩ nhiên cũng làm bà băn khoăn.
Cứ mở mắt ra là bà phát hiện cả đống thứ, từ chuyện con mèo tái nhợt rải lông đầy chiếc váy đen mà bà vắt trên lưng ghế trong phòng ngủ, chiếc dép đi trong nhà bị mất tới quầng thâm dưới mắt Hanna. Đập vào mắt bà còn có mớ quần áo giặt khô mà bà định xử lý gần tháng qua, vết rách trên giấy dán tường ở tiền sảnh, nốt mụn phát khiếp trên cái cằm dậy thì của Jake… Góp thêm vào bức tranh ấy là mùi thức ăn mèo rơi vãi, cái thùng rác mà cả nhà ai cũng làm lơ không chịu đổ (thay vào đó những bàn tay lười biếng cố ấn thêm rác vào). Đó chính là cuộc sống hoàn hảo một thời của bà Laurel: Xen lẫn giữa mớ mùi mẽ khó chịu và núi công việc làm mãi không xong là những mối lo lắng tủn mủn cùng xấp hóa đơn trễ hẹn.
Cho tới một buổi sáng, cô con gái vàng ngọc, con bé út cục cưng, người bạn tâm giao, niềm tự hào và niềm vui lớn lao của bà rời khỏi nhà mà không bao giờ quay về nữa.
Bà cảm thấy thế nào trong mấy giờ đầu khi sự việc mới được phát giác? Trong đầu bà, tim bà, cảm xúc gì đã xóa tan tất cả nỗi muộn phiền vặt vãnh kia? Sự kinh hoàng. Tuyệt vọng. Buồn khổ. Khiếp hãi. Đau đớn tột cùng. Hoảng loạn. Tan nát cõi lòng. Lo sợ. Những từ ngữ thống thiết đó thậm chí chưa đủ để lột tả tâm trạng của bà Laurel.
“Chắc con bé ở nhà Theo. Sao em không gọi cho mẹ thằng bé?” Ông Paul nói. Nhưng bà Laurel biết chắc chắn con gái mình không có ở đó. Trước khi đi, con bé nói với bà: “Con sẽ về đúng giờ ăn trưa. Còn mì nướng lasagne không hả mẹ?”
“Còn đủ cho một người thôi.”
“Đừng để chị Hanna ăn đấy! Jake cũng không được luôn! Mẹ hứa đi mẹ!”
“Được rồi, mẹ hứa.”
Sau đó là tiếng cửa trước lách cách, âm thanh trong nhà nhỏ bớt lại do có một người ra ngoài. Bà Laurel còn phải lấy bát đĩa ra khỏi máy rửa bát, gọi một cú điện thoại, mang Lemsip[1] lên tầng trên cho ông Paul. Chồng bà đang bị cảm và chuyện này gây khó chịu cho bà Laurel nhiều nhất.
“Paul đang bị cảm.”
Bà đã than vãn chuyện này với bao nhiêu người mấy ngày nay rồi nhỉ, kiểu vừa nói vừa đảo mắt vừa thở dài mệt mỏi ấy?
“Paul đang bị cảm.” (Đúng là rách việc. Còn gì là đời tôi. Thật đáng thương cho tôi).
Dù vậy, bà Laurel vẫn gọi điện cho mẹ của Theo.
Bà Becky Goodman trả lời: “Tôi thực sự lấy làm tiếc nhưng con bé không ở đây. Theo ở nhà cả ngày và chúng tôi không nghe tin gì về Ellie hết. Nếu tôi có thể giúp được gì thì hãy nói cho tôi biết nhé…”
Khi trời về chiều, bà Laurel đã gọi điện hết cho bạn bè Ellie. Bà cũng tới thư viện và được cho xem máy quay an ninh. Ellie không hề đặt chân đến thư viện hôm đó. Mặt trời lặn dần và ngôi nhà chìm vào bóng tối lạnh lẽo, chỉ có ánh chớp trắng lóe lên đều đặn báo hiệu một cơn bão đang lặng lẽ hình thành trên cao. Chỉ đến lúc đó, bà Laurel mới chịu thừa nhận nỗi sợ hãi đeo bám bà cả ngày nay. Bà gọi điện cho cảnh sát.
Và lần đầu tiên bà thấy ghét ông Paul. Trong buổi tối định mệnh đó, ông Paul lùm xùm áo choàng, đi chân không, trên người toàn mùi giường chiếu, nước mũi. Ông cứ sụt sịt, sụt sịt suốt rồi lại hỉ mũi, tạo ra thứ âm thanh kinh khủng. Tiếng thở miệng nặng nề của ông qua đôi tai cực kỳ nhạy cảm của Laurel không khác gì tiếng khò khè giãy chết của quái vật.
“Mặc đồ đàng hoàng vào đi,” bà Laurel cáu kỉnh. “Làm ơn.”
Ông Paul nghe lời như một đứa trẻ bị mắng mỏ. Vài phút sau, ông xuống gác, mặc nguyên một bộ quần áo đi chơi mùa Hè, với quần soóc kiểu lính và áo thun sáng màu. Nhìn ông hết sức ngứa mắt, không thể chịu đựng được!
“Hỉ mũi đi,” bà ra lệnh tiếp. “Hỉ cho sạch ấy. Đừng có để sót lại.”
Một lần nữa, ông líu ríu làm theo. Một cách chán chường, bà nhìn theo khi ông vo tròn nhúm khăn giấy rồi ủ dột bước qua nhà bếp để vứt vào thùng rác.
Sau đó, cảnh sát tới.
Sau đó nữa, sự đày đọa bắt đầu.
Sự đày đọa chưa bao giờ chấm dứt.
Thỉnh thoảng, bà Laurel tự hỏi nếu hôm đó ông Paul không bị cảm - thay vào đó, ông phóng về nhà ngay sau cú điện thoại đầu tiên của vợ, trên người là bộ trang phục công sở chỉn chu, toàn thân toát lên vẻ vững chãi và nhanh nhẹn, rồi ông ngồi xuống ngay cạnh bà, vòng tay ôm chặt vợ - thì mọi chuyện có khác đi hay không? Nếu ông không khò khè thở qua đường miệng, không khụt khịt liên hồi và không lấm la lấm lét, liệu họ có vượt qua được chuyện này? Hay là có lý do gì nữa khiến bà trở nên ghét ông?
Cảnh sát ra về vào tầm tám giờ rưỡi tối. Không lâu sau đó, Hanna xuất hiện ở cửa bếp, giọng rụt rè, “Mẹ ơi, con đói.”
Bà Laurel liếc đồng hồ, “Ôi Chúa ơi, mẹ xin lỗi. Chắc là con đói lắm rồi.” Bà nặng nề nhấc mình dậy, thẫn thờ xem qua tủ lạnh cùng con gái.
“Món này được không mẹ?” Hanna nhấc ra chiếc hộp Tupperware đựng phần mì lasagne cuối cùng.
“Không,” bà Laurel giật phắt chiếc hộp lại, rất mạnh tay. Hanna chớp mắt nhìn mẹ.
“Sao lại không?”
“Chỉ là không được thôi,” bà Laurel đáp với giọng dịu lại.
Bà làm cho Hanna món bánh mì nướng đậu rồi ngồi nhìn cô bé ăn. Hanna, đứa con giữa của bà, một đứa bé khó bảo, chuyên làm bà mệt mỏi. Nếu lỡ may bị lạc trên hoang đảo, bà chẳng bao giờ muốn ở cùng Hanna. Trong đầu bà bỗng lóe lên một suy nghĩ kinh khủng, nhanh tới mức bà không kịp nhận thức: “Phải chi đứa mất tích là con và Ellie đang ngồi đấy ăn bánh mì nướng đậu.”
Bà nhẹ nhàng vuốt má Hanna rồi rời khỏi phòng.