21 SỐ GIỜ CÒN LẠI TRONG CA TRỰC: 8
Tôi dành cả tiếng đồng hồ tiếp để nói chuyện với bà Mary, và biết thêm nhiều điều về cuộc đời bà. Bà từng làm thư ký suốt ba mươi năm cho một người đàn ông tên là Timmerman. Ông Timmerman thích có một tách cà phê mỗi sáng vào đúng chín giờ rưỡi, một thìa đường, một thìa kem, khuấy đúng một lần, không hơn. Đấy, tôi biết khá nhiều về cách ông Timmerman uống cà phê.
“Chà, ta nói nhiều quá làm cháu nhàm tai rồi nhỉ?”
“Không, cháu thích nghe mà.”
“Cháu là người biết lắng nghe đấy,” bà nói. “Đó là một phẩm chất tốt. Cháu sẽ trở thành một bác sĩ tuyệt vời, Amy ạ.”
Tôi có chút xấu hổ. “Cháu cảm ơn bà.”
“Còn nữa,” bà nói thêm, “cháu làm ơn nói với bác sĩ Beck rằng ta không bao giờ làm hại cô bé đó cả. Ta chỉ bế nó xuống khỏi xích đu thôi, để cái tiếng kẽo kẹt đó ngừng lại. Cháu biết những cái xích đu kêu khó chịu đến thế nào rồi đấy, đúng không?”
“Vâng. Cháu cũng ghét xích đu lắm.”
Bà trông có vẻ nhẹ nhõm. “Cảm ơn cháu, Amy. Ta chỉ muốn được về nhà thôi. Nói với bác sĩ Beck rằng ta đã đủ khỏe để về nhà rồi nhé.”
“Vâng, cháu sẽ bảo bác sĩ Beck,” tôi hứa, như thể tôi nói thì bác sĩ phụ trách sẽ làm theo vậy.
Bà nhắm mắt lại một lúc, và trông bà đột nhiên già hẳn đi, như thể đã tròn trăm tuổi.
“Ta thực sự sợ rằng... ta sẽ không sống qua nổi đêm nay.”
“Sao bà lại nghĩ vậy?”
Mary hé miệng như định trả lời, nhưng rồi đổi ý và lắc đầu. “Ta mệt quá, giờ ta không muốn nói gì nữa. Cháu về đi.”
Bà đúng là trông rất mệt, mà cũng đã muộn rồi. Tôi có thể nói chuyện với bà thêm vào sáng mai. “Vâng, thế bà nghỉ đi ạ.”
Khi tôi vừa đứng dậy định rời khỏi phòng, bà Mary bỗng đưa cánh tay gầy guộc ra nắm lấy tay tôi. “Cất kỹ cây kim đan ta đưa cho cháu nhé Amy. Cháu sẽ cần nó đấy.”
Tôi thực sự hy vọng đêm nay không kết thúc bằng việc tôi phải dùng cây kim đan đó để đâm vào ai. Bước ra khỏi phòng bà Mary, tôi suýt nữa đâm sầm vào Clint Eastwood. Ông đang lảo đảo đi dọc hành lang, một tay cầm cái túi giấy đựng bánh quy và một tay giữ để chiếc quần ngủ khỏi tụt. Ở khóe miệng ông còn vương ít bọt trắng.
“Sao không ai cất bánh cho tôi?” Ông kêu lên, giọng bực tức và buộc tội. “Tôi vẫn còn cầm đây này!”
“Cháu xin lỗi,” tôi nói.
“Tôi bị tiểu đường,” ông nhắc lại. “Mấy cái bánh này có thể giết tôi đấy. Sao họ lại đưa bánh cho tôi chứ?”
“Cháu cũng không biết nữa. Nhưng... cháu rất sẵn lòng giữ chúng giúp ông.”
Clint lẩm bẩm gì đó trong miệng. Ông trông như sắp đưa tôi cái túi bánh quy thì chợt ông nhìn sang phòng 912. Ông gãi gãi mấy sợi râu xám mọc lởm chởm trên cằm và đi về phía đó.
“Đợi đã,” ông nói.
Ông Clint lảo đảo bước vào phòng của bà Mary. Tôi không chắc ông có được phép vào đó không, nhưng trông ông có vẻ vô hại, mà bà Mary cũng chẳng có vẻ phiền lòng. Khi thấy ông, bà ngẩng lên và mỉm cười.
Ông thò tay vào túi, lấy ra một gói bánh quy giòn. “Cái này là cho bà đấy, người đẹp.”
Mary nhận gói bánh quy. “Ôi, ông thật là dễ thương!”
Clint nháy mắt với bà, và cả hai cùng cười. Tôi bỗng thấy cuộc đời lại ngọt ngào biết bao.
Tôi đi ra để họ có chút riêng tư. Đến khi ra tới hành lang và thấy các phòng bệnh gần như đều đã tắt hết đèn, tôi mới nhận ra đêm đã khuya rồi. Các phòng bệnh đều đóng kín, có vẻ ai cũng đã ngủ. Tôi đoán Cameron chắc đang ngủ say trên ghế sô pha trong phòng nghỉ của nhân viên. Có khi tôi sẽ gọi anh ta dậy để lấy chỗ đó, dù thật ra tôi cũng chưa buồn ngủ lắm.
Nhưng cuối cùng tôi quay lại quầy y tá. Dù không bắt buộc, có lẽ tôi nên ghi chép những quan sát của mình về bà Mary Cummings. Ít nhất sáng mai, tôi cũng sẽ có cái gì đó để nộp cho bác sĩ Beck, khi Cameron nộp “kiệt tác” dài như tiểu thuyết của anh ta về Spider-Dan.
Ramona đang ngồi ở quầy y tá, vẫn lật giở cuốn tạp chí lúc nãy. Lần này chị ấy đang xem cách ‘tăng gia vị cho đời sống tình cảm’. Chị ấy ngẩng lên và mỉm cười khi thấy tôi.
“Trông em mệt thế!”
Tôi đúng là mệt, nhưng đồng thời cũng biết mình sẽ chẳng thể nào ngủ được. “Em không quen làm ca đêm.”
“À đúng rồi.” Chị ấy bật cười khúc khích. “Em mới bắt đầu năm ba mà. Chưa quen với lịch trực đâu nhỉ.”
“Vâng, chưa.” Và thật không may, mọi chuyện chỉ càng vất vả hơn thôi. Tâm thần học là khoa thực tập dễ nhất rồi. Tôi đang sợ phải qua khoa phẫu thuật, tôi không có sức bền như Cam. “Nhưng em sẽ cố xoay xở.”
“Đừng lo,” Ramona nói. “Ở đây buổi tối yên tĩnh lắm. Trừ khi Mary Cummings lại bắt đầu quậy phá.”
Tôi chợt nghĩ đến bà Mary và những cây kim đan. Theo phản xạ, tôi đưa tay chạm vào cây kim trong túi quần. Nó vừa khít bên trong cái túi.
“Chị làm ca đêm lâu chưa?” Tôi hỏi.
“Ôi, từ kiếp trước ấy.” Ramona cười tươi. “Làm đêm thì ban ngày chị được rảnh để đi hẹn hò hay làm việc riêng. Với lại chị đâu có người yêu nào để than phiền rằng chị toàn ngủ khi anh ta thức đâu.”
“Bệnh nhân ở đây có gây rắc rối nhiều không?”
Chị ấy chẳng cần nghĩ lâu, đã lắc đầu. “Đa số họ rất dễ chịu. Thỉnh thoảng lắm mới có một ca rắc rối thôi.”
“Như Damon Sawyer à?”
Ánh mắt chị ấy hơi sầm xuống. “Đúng, như anh ta.” Nói đến đó, chị ấy liếc nhanh về cuối hành lang, hướng về phòng cách ly. Cánh cửa vẫn đóng chặt. “Nhưng đó là trường hợp ngoại lệ. Thường thì chị chỉ phát thuốc xong là xong việc.” Chị ấy giơ cuốn tạp chí lên. “Rồi chị có thể đọc suốt đêm.”
Tôi liếc nhìn giá hồ sơ bệnh án. “Vậy em không làm phiền chị nữa. Em chỉ muốn ghi nhanh vài dòng về bệnh nhân tối nay thôi.”
“Không phiền đâu.” Ramona đứng dậy, rút một hồ sơ từ giá rồi đặt trước mặt tôi. “Có em ở đây bầu bạn cũng vui.”
“Cảm ơn chị,” tôi nói.
Tôi ngồi xuống chiếc ghế xoay và kéo tập hồ sơ lại gần. Lúc đó tôi mới nhận ra chị ấy không lấy cho tôi hồ sơ của bà Mary. Lúc nãy chị ấy thấy tôi ở trong phòng của Jade, nên đã lấy hồ sơ của Jade cho tôi. Tập hồ sơ của Jade giờ đang nằm ngay trước mặt tôi.
Nó không dày lắm, điều đó cũng dễ hiểu thôi. Tôi không nghĩ cô ấy đã ở đây lâu. Và phần lớn ghi chú chắc nằm trong hệ thống máy tính mà tối nay tôi không thể truy cập được do bảo trì. Nhưng ít nhất, trong hồ sơ chắc sẽ có ghi chú từ phòng cấp cứu, với tiền sử tâm thần và lý do nhập viện của cô ấy.
Xem qua một chút thôi cũng không hại gì đâu. Tôi đặt tay lên bìa hồ sơ, cầm lấy tấm nhựa bọc ngoài, do dự không biết có nên mở ra không. Nếu là Jade, chắc chắn cậu ta sẽ đọc hồ sơ của tôi mà chẳng thấy tội lỗi chút nào.
Chỉ xem lướt qua thôi. Vài giây thôi. Tôi lật bìa hồ sơ ra, nhưng trước khi kịp nhìn dòng đầu tiên, đèn trên trần nhấp nháy rồi tắt phụt.
“Cái quái gì vậy?” Ramona nói.
Chắc là mất điện rồi. Căn phòng lập tức tối đen như mực, tôi không thấy nổi bàn tay mình. Ramona khẽ chửi thề, và tôi nghe tiếng ghế ngã xuống sàn. Rõ ràng chị ấy cũng chẳng nhìn thấy gì. Lạy Chúa... nếu mất điện, có nghĩa là khóa cửa cũng ngừng hoạt động sao? Kể cả phòng cách ly nữa sao?
“Chị Ramona?” Tôi gọi.
“Chị đây.” Tôi quay đầu về phía giọng nói, nhưng chẳng thấy gì ngoài bóng đen. “Đừng lo. Chị không biết vì sao mất điện, nhưng có máy phát dự phòng. Sẽ ổn thôi.”
“Chị Ramona,” tôi nói gấp, “nếu mất điện, có phải mấy cái khóa cửa cũng không còn hoạt động không?”
Chị ấy im lặng lâu đến nỗi tôi còn tưởng chị ấy đã đi mất rồi. “Chị... không biết,” cuối cùng Ramona nói.
Trời ơi.
Nhưng trước khi tôi kịp hoảng loạn, đèn lại chớp sáng, điện đã có trở lại. Tôi thở phào nhẹ nhõm, ít ra đêm nay tôi không phải ngồi trong bóng tối mịt mù. Nhưng chưa kịp mừng vì có lại ánh sáng tôi đã thấy một người đàn ông loạng choạng bước về phía quầy y tá.
Đó là Miguel. Chỉ là bây giờ anh ta không còn mặc bốn lớp áo như trước nữa. Thực ra, anh ta chẳng mặc gì cả.
Và toàn thân anh ta đầy là máu.