Chương 7
Tiếp theo, bác sĩ Beck dẫn chúng tôi đến phòng nghỉ của nhân viên, nằm ngay cạnh cửa ra vào, rồi ra ngoài, cho chúng tôi vài phút để xếp đồ ăn tối của mình vào tủ lạnh.
Phòng nghỉ trông cực kỳ tạm bợ. Có duy nhất một chiếc ghế sô pha và trông nó còn tệ hơn cả cái mà tôi với Gabby từng vớt được ở lề đường năm ngoái, và nói thế là đủ hiểu rồi đấy. Ở góc phòng là một chiếc máy vi tính, kiểu máy tính tôi hay nhìn thấy trong các bức ảnh chụp nhà ông bà thời tôi còn chưa ra đời. Bên cạnh chiếc máy tính cổ lỗ đó là một ô cửa sổ. Nếu tôi manh nha ý định mở cửa ra cho có chút không khí trong lành, thì ý định ấy cũng bay biến ngay lập tức khi tôi thấy những song sắt chắn kín bên ngoài cửa.
Cameron kéo mạnh cánh cửa tủ lạnh ra để chúng tôi cất bữa tối vào đó. Cái tủ lạnh trông như thể cả thế kỷ rồi chưa được lau dọn. Mọi bề mặt đều phủ một lớp màng nâu khô cứng, và để nhét phần ăn của mình vào, tôi phải đẩy một hộp sữa sang bên. Lúc cầm hộp sữa lên tôi cảm thấy chỗ chất lỏng bên trong đã sắp hóa thành chất rắn. Dù vậy, tôi cũng chẳng dám vứt thứ gì đi.
Ừm, liệu đây có phải là một dạng “thí nghiệm tâm lý” nào đó không? Biết đâu đang có người theo dõi chúng tôi qua camera để xem ai sẽ chịu nổi mà dọn dẹp cái tủ lạnh kinh khủng này?
Cameron giơ điện thoại lên, nhấn liên hồi vào màn hình. “Ở đây không có tí sóng nào luôn.”
Dù anh ta từng đá tôi chỉ vì một bài thi, nhưng tôi vẫn tử tế nói cho anh ta biết: “Gabby nói là có sóng ở ngay chỗ cửa sổ.”
Tôi làm theo lời Gabby, bước lại gần cửa sổ, áp điện thoại vào mặt kính mát lạnh, và đúng như lời cô ấy, một vạch sóng hiện lên trên màn hình. Rồi thêm một vạch nữa. Hai vạch sóng! Tuyệt vời!
Trước khi chúng kịp biến mất, tôi nhanh chóng gõ tin nhắn gửi cho Gabby: [ Đã điểm danh. Sao cậu không bảo với tớ là bác sĩ Beck rất đẹp trai!]
Tin nhắn gửi đi thành công, nhưng chỉ một giây sau, các vạch sóng biến mất. Cũng tốt thôi, vì bác sĩ Beck đang đợi chúng tôi.
Khi chúng tôi quay lại quầy y tá, bác sĩ Beck đang lật xem một tập hồ sơ. Thầy ngẩng lên mỉm cười khi thấy chúng tôi.
“Nhiệm vụ của hai em tối nay,” thầy nói, “là hỗ trợ nếu có bất kỳ tình huống khẩn cấp nào trong khoa. Ngoài việc đó ra thì chỉ cần tập trung học hỏi.”
“Nghe tuyệt quá!” Cameron nói, hào hứng như đứa trẻ sắp được đi Disneyland.
“Nhưng có một tin xấu,” bác sĩ Beck tiếp tục. “Tối nay hệ thống máy tính đang được bảo trì. Vì vậy chúng ta sẽ phải xem hồ sơ bệnh án bản cứng và dùng phiếu yêu cầu bằng giấy.”
Tôi thấy cũng được. Tôi có tài khoản đăng nhập hệ thống, nhưng chưa từng sử dụng. Với vận may gần đây của tôi, kiểu gì cũng phải gọi nhân viên kỹ thuật hỗ trợ mất cả tiếng thì mới dùng được.
Bác sĩ Beck chỉ tay về giá tài liệu, nơi xếp hàng loạt bìa hồ sơ màu xanh dày cộp trên kệ phía sau quầy. “Chỗ đó là hồ sơ. Tôi khuyên hai em tối nay nên đọc qua bệnh án của vài bệnh nhân rồi đến nói chuyện với họ. Biết về họ càng nhiều càng tốt, theo dõi họ trong suốt ca trực.”
Quá đủ cho kế hoạch trốn trong phòng nghỉ cả đêm của tôi.
“Tôi sẽ dạy cho hai em những gì có thể,” bác sĩ Beck nói thêm. “Đây là một trải nghiệm rất đặc biệt, một cơ hội tuyệt vời để lĩnh hội trực tiếp kiến thức tâm thần lâm sàng. Hai em hứng thú với lĩnh vực này chứ?”
“Em có ạ,” Cameron đáp ngay.
Trời đất ơi, nói dối không chớp mắt.
“Còn em thì sao, Amy?” Bác sĩ Beck hỏi.
“Không thích lắm ạ,” tôi thú nhận.
Cameron quay sang nhìn tôi, như thể không tin nổi tôi lại không thèm giả vờ lấy một chút. Nhưng thật ra, nói thế vẫn còn nhẹ nhàng đấy. Nếu nói đúng ý nghĩ trong đầu, tôi phải nói là: Em thà treo cổ còn hơn.
Dù vậy, bác sĩ Beck bật cười. “Sự thẳng thắn của em thật đáng quý,” thầy nói. “Tôi cũng phát ngán với việc sinh viên nào cũng giả vờ thích tâm thần học rồi.”
Vành tai Cameron đỏ rực lên khiến tôi cảm thấy dễ chịu hơn một chút.
Bác sĩ Beck dẫn chúng tôi trở lại hành lang. Xung quanh rất yên tĩnh, chỉ có một âm thanh lạ lùng nhưng rất nhịp nhàng vang lên: tách, tách, tách. Giống như có một người đang nhảy thiết hài trong một căn phòng nào đó. Tôi lờ đi tiếng động ấy.
“Tất cả bệnh nhân trong Khu D đều có phòng riêng,” bác sĩ Beck giải thích. “Các phòng không khóa, nhưng có hai phòng cách ly có thể khóa từ bên ngoài bằng bàn phím mã số. Ngoài ra thì bệnh nhân có thể tự do đi lại trong khu nếu họ muốn. Có một phòng sinh hoạt chung với ghế sô pha, ti vi, thậm chí cả đàn piano.”
“Em biết chơi piano,” Cameron lập tức chen vào. “Thực ra hồi đại học em còn có một suất sang Paris học piano đấy.”
Bác sĩ Beck phớt lờ lời khoe khoang đó. “Tôi khuyến khích hai em dành thời gian với bệnh nhân mà mình theo dõi, và thật sự tìm hiểu sâu về họ. Hầu hết họ đều sẵn lòng trò chuyện, và các em sẽ học được rất nhiều. Sau này trong quá trình đào tạo, các em sẽ bận rộn hơn và không có những cơ hội như thế này nữa đâu.”
Tách, tách, tách. Lại là âm thanh này.
“Nghe thật tuyệt ạ,” Cameron nói, giọng ngọt như mía lùi.
Trời ạ, anh ta đúng là kẻ nịnh bợ đáng ghét. Tôi không thể tin nổi mình từng hẹn hò với gã này. Sao tôi lại từng thấy anh ta đẹp trai hay từng nghĩ anh ta hôn giỏi được nhỉ? Nhưng cảm giác bực bội đó cũng bị át đi phần nào vì cái tiếng tách tách tách đều đều không ngừng kia.
Tách, tách, tách. Như thể ai đó đang cố gửi tín hiệu mã Morse vậy.
“Tiếng gì thế ạ?” Tôi lên tiếng hỏi.
“À!” bác sĩ Beck bật cười. “Đó là Mary. Bà ấy lúc nào cũng đan len.”
Thầy chỉ tay về căn phòng ngay phía trước, phòng 912. Tôi liếc nhìn vào trong, và đúng thật, một bà cụ tóc bạc, mặc chiếc váy len dài, đang ngồi trên ghế, đôi tay gầy guộc cầm hai cây kim đan. Bà đang đan một chiếc khăn, nhưng chiếc khăn đó... quá dài, dài một cách kỳ cục. Nó quấn quanh chân bà, rồi trải dọc theo bức tường trong phòng, vòng đi vòng lại tới ba lượt. Trông như thể bà đang đan cùng lúc năm, sáu chiếc khăn vậy.
“Sao bà ấy lại phải vào đây ạ?” Cameron hỏi.
Hỏi thế hơi thiếu tế nhị, nhưng Mary trông thật sự rất bình thường.
“Rồi hai em sẽ sớm thấy thôi.” Bác sĩ Beck nháy mắt với chúng tôi. “Bà ấy bị hội chứng hoàng hôn khá nặng.”
“Hội chứng hoàng hôn là gì ạ?” Tôi hỏi.
“Hiện tượng này xảy ra với khá nhiều người già bị sa sút trí tuệ,” thầy giải thích. “Khi mặt trời lặn, họ bắt đầu trở nên lú lẫn và kích động hơn. Cứ để ý bà ấy, rồi hai em sẽ thấy.”
“Vậy bà ấy vào đây vì sa sút trí tuệ ạ?”
“Ồ không.” Bác sĩ Beck lắc đầu mạnh. “Bà ấy ở đây vì lý do rất chính đáng, tin tôi đi.”
Tôi liếc nhìn lại vào trong phòng của Mary. Bà nhận ra chúng tôi đang đứng ở cửa, khuôn mặt nhăn nheo của bà nở một nụ cười lớn đến mức như nuốt cả đôi môi vào trong. Bà giơ tay vẫy chào. Tôi cũng vẫy tay đáp lại.
“Bác sĩ để bà ấy giữ kim đan ạ?” Tôi ngạc nhiên hỏi. Đó là một trong những món đồ nằm trong danh sách “tuyệt đối không được mang vào” mà.
Bác sĩ Beck gật đầu. “Đó là kim đan nhựa dành cho trẻ em, hoàn toàn vô hại. Bà ấy không phải bệnh nhân có nguy cơ cao, và việc đan len giúp bà thấy thoải mái. Nếu không cho bà làm, bà sẽ bồn chồn không yên.”
Tôi tưởng tượng ra cảnh một cây kim đan đâm thẳng vào nhãn cầu mình trong đêm nay. “À... vậy ạ.”
“Như tôi đã nói lúc nãy,” bác sĩ Beck tiếp tục, “chúng ta có hai phòng cách ly có khóa, nhưng hiện tại chỉ có một phòng đang được sử dụng. Tôi sẽ đưa hai em đi xem.”
Thầy dẫn chúng tôi đi vòng qua hành lang đến hai căn phòng có bàn phím mã số bên cạnh cửa. Một cánh cửa đang mở, còn cánh kia thì đóng kín. Tôi thấy hơi bất an khi nhận ra chúng ở ngay gần phòng nghỉ nhân viên, nơi tôi dự định sẽ ở lì suốt đêm nay. Có lẽ sắp xếp như vậy là có chủ ý.
“Phòng cách ly số một hiện đang có người ở,” thầy nói. “Và tôi khuyên hai em tuyệt đối đừng lại gần bệnh nhân trong phòng đó suốt đêm nay.”
“Sao lại thế ạ?” Cameron hỏi.
Bác sĩ Beck ngập ngừng một chút, đôi mày khẽ chau lại. “Sawyer... rất nguy hiểm.”
Tim tôi bỗng đập nhanh hơn. “Nguy hiểm ạ?”
“Nhưng không phải với hai em,” thầy nói nhanh. “Xem này, cửa đã khóa. Và trong phòng, ông ta cũng đang bị trói. Hoàn toàn không thể thoát ra ngoài. Sáng mai, ông ta sẽ được chuyển đến một cơ sở có an ninh cao hơn.”
Trời ơi...
“Tôi đảm bảo hai em an toàn tuyệt đối.” Bác sĩ Beck nở một nụ cười trấn an khi thấy vẻ mặt tôi. “Sawyer không thể nào thoát ra khỏi căn phòng đó được.” Thầy dừng lại một nhịp. “Tất nhiên... trừ khi hai em tự tay mở cửa cho ông ta.”
Thầy im lặng trong giây lát. Không gian yên tĩnh đến mức tôi nghe thấy một âm thanh vọng ra từ bên trong phòng cách ly này. Một thứ âm thanh thật khủng khiếp, gần như chẳng giống tiếng người. Nó vừa như tiếng rên, vừa như tiếng gầm gừ.
Trời ơi... trong căn phòng đó là ai? Hay đúng hơn... là cái gì vậy?
“Thầy đừng lo,” tôi nói khẽ. “Chúng em sẽ tránh xa.”
“Tốt.” Bác sĩ Beck gật đầu.
Chúng tôi quay người đi ngược lại hành lang. Khi đi ngang qua phòng 905, tôi nhận ra cánh cửa vẫn hé mở. Và lần này, đôi mắt xanh pha vàng ấy lại đang nhìn ra. Nó dõi theo tôi.