13. HIỆN TẠI
Tôi mừng vì hôm nay tôi không có ca phẫu thuật nào, tập trung làm việc sau chuyến thăm của Thanh tra Barber là chuyện bất khả thi. Tất cả những gì tôi nghĩ đến là về Amber Swanson. Và ai có thể gây ra chuyện đó cho cô gái ấy.
Đây có thể là sự trùng hợp. Tôi cầu xin Chúa là như vậy. Nhưng tôi chưa từng thực sự tin vào chuyện ngẫu nhiên.
Nhưng cũng không thể là do cha tôi được. Ông ta đang ở tù. Với mười tám án chung thân.
Khoảng năm giờ chiều, tôi rút vào phòng tắm để nghỉ một lát. Có một phòng vệ sinh chung ở cùng tầng, nhưng chúng tôi được sử dụng một phòng tắm riêng chỉ cho bốn người. Tôi khoá mình bên trong và vã nước vào mặt. Trong lúc nhìn chằm chằm vào hình ảnh phản chiếu bản thân trong gương, tôi thấy cặp mắt đen của mình đã vằn máu.
Tôi nhắm mắt lại và hít thật sâu. Mọi chuyện sẽ ổn thôi. Tôi đã không làm gì sai cả.
Tôi mở mắt, vã nước vào mặt thêm lần nữa rồi xịt một ít xà phòng lên tay. Nhưng thậm chí trước cả khi tôi kịp xoa bọt thì mùi hương xà phòng đã dâng đầy trên mũi tôi. Tôi phát oẹ.
Đó là mùi oải hương.
Tôi cầm chai xà phòng rửa tay lên, bừng bừng giận dữ. Tôi giật mở cánh cửa phòng tắm và lao xuống hành lang qua văn phòng Philip. Tôi đập cửa rồi mở ra mà không chờ trả lời. Anh ta đang ngồi tại bàn, nhập lệnh vào máy tính, và cặp mắt anh mở lớn khi trông thấy tôi.
“Cái gì đây?” tôi quát anh ta, tay lăm lăm chai xà phòng. Tôi lắc nó trước mặt anh ta.
Cặp lông mày của anh chau lại. “Xà phòng?”
“Xà phòng mùi oải hương!”
Anh ta nhún một bên vai. “Thì sao...?”
“Nó ở đâu ra?”
“Anh đặt hàng đấy.” Anh lắc lắc đầu với tôi. “Chúng ta cần xà phòng trong phòng tắm riêng. Anh không hiểu. Vấn đề ở đây là gì?”
Tôi nghiến răng kèn kẹt. “Tôi ghét mùi oải hương. Tôi đã bảo anh thế rồi.”
“Anh không hề nhớ em từng nói thế bao giờ.”
“Chắc chắn là có.”
“Chúa tôi ơi, Nora.” Anh ta vò tay vào trong tóc. “Nó chỉ là xà phòng thôi mà. Thư giãn chút đi.”
Tôi lẳng cái chai xà phòng vào thùng rác, làm nó rung lên vì tiếp xúc với đáy thùng. “Ngày mai tôi sẽ mua loại khác. Đừng có mà mua xà phòng nữa nếu không nhớ nổi cái gì là không được mua. Được chưa?”
Tôi rầm rập bước ra khỏi văn phòng anh ta, đóng sầm cửa lại sau lưng. Tôi có thể đã cư xử hơi thái quá một chút. Được rồi, là thái quá. Nhưng tôi ghét oải hương hơn bất kì thứ gì trên đời. Tôi vẫn còn thấy buồn nôn vì mùi của thứ nước xà phòng kia. Giờ thì tôi cảm thấy mình cần phải tắm mới tẩy sạch được nó khỏi người.
Thông thường, tôi là người cuối cùng rời văn phòng, nhưng hôm nay tôi cố gắng xử lý giấy tờ để ra về ngay sau khi xong việc với bệnh nhân cuối cùng. Khi tôi vào phòng chờ, Harper và Sheila đều đang mặc áo khoác.
“Chào, Nora,” Sheila nói. “Harper và tôi định đi uống một chút và tám chuyện cái cậu Sonny kia dở hơi cám hấp thế nào. Muốn đi cùng không?”
Thông thường tôi sẽ nói có. Tôi sẽ muốn đi với họ. Tôi muốn tỏ ra ủng hộ Harper và đảm bảo cú vấp nhỏ lần này không cản trở con đường học y của cô bé. Nhưng ngồi trong cùng quán bar với Sheila và Harper và giả vờ quan tâm đến một thứ vớ vẩn như là... đàn ông. Tôi chỉ không thể làm thế đêm nay.
“Tôi xin lỗi,” tôi nói. “Tôi phải về nhà.”
Harper cau mày với tôi. “Chị vẫn buồn vì bệnh nhân đó à? Người vừa mất ấy.”
Tất nhiên, sau khi viên thanh tra rời đi, tôi đã kể họ nghe về Amber Swanson. Tôi phải kể. Nhưng tôi bỏ qua cái phần tôi chính là nghi phạm vì cô ấy đã bị phân thây chính xác như cách ông bố giết người hàng loạt của tôi đã làm với nạn nhân của ông ta. Không ai trong văn phòng biết tôi được sinh ra là Nora Nierling cả. Và họ sẽ không bao giờ biết.
“Chị bị mệt thôi,” tôi nói dối. “Nhưng hai người vui nhé.”
Sheila và Harper xìu mặt thất vọng, nhưng họ không cố thuyết phục tôi đi cùng với họ thêm nữa. Tôi là sếp của họ, nên như thế rất kỳ. Hơn nữa, tôi không phải người đặc biệt thú vị gì. Tôi biết mình biết ta chứ. Họ sẽ có khoảng thời gian vui vẻ hơn mà không có tôi.
Khi ra đến xe, tôi đã định sẽ lái thẳng về nhà như đã nói với họ. Nhưng thay vào đó tôi lại thấy mình đang đi đường vòng. Tôi đang tới quán Christopher lần thứ ba trong ba ngày. Chính xác là lần này thì tôi không đi tìm Old Fashioned.
Khi tôi bước vào quán rượu u tối, tôi lập tức thấy Brady đang pha rượu. Anh đang làm gì đó với một cái lắc cocktail, và tôi có thể thấy những cơ bắp hằn lên trên cánh tay anh. Một chút rùng mình lan toả khắp người tôi. Tôi đã tự kiêng khem quá lâu, nhưng tôi cần việc đó ngay lúc này.
Khuôn mặt anh bừng sáng khi trông thấy tôi, thật đáng yêu. Anh pha nốt ly rượu cho khách rồi vội ra chỗ tôi ngay. “Một ly Old Fashioned nữa à?”
Tôi nhìn vào mắt anh trong lúc trượt chiếc ô anh đã cho tôi mượn qua quầy bar. “Khi nào anh xong việc?”
Một nụ cười ngạc nhiên lan rộng trên mặt anh. “Khoảng một tiếng nữa.”
“Tốt.”
“Vậy là...” Anh nhướng một bên chân mày. “Cuối cùng em cũng để tôi đưa em đi ăn tối đó à?”
Tôi lắc đầu. “Không. Đến chỗ anh.”
Nụ cười của anh nhạt đi đôi chút. Tôi không biết mình nên thấy tổn thương hay được phỉnh nịnh vì anh đang hi vọng có gì đó nhiều hơn cuộc tình một đêm với tôi. “Ồ…”
“Chúng ta không phải làm vậy nếu anh không muốn đâu.”
“Không,” anh vội nói. “Anh muốn chứ. Chắc chắn rồi. Nhưng em không muốn đi ăn chút gì trước hay...?”
“Không. Em muốn đến thẳng chỗ anh.”
Anh chớp mắt mấy lần. “Được rồi. Vậy thì... anh đoán là em cứ chờ ở đây đã nhé.”
“Trong một tiếng,” tôi nói.
“Ừ. Trong một tiếng. Đừng đi đâu nhé?”
Rốt cuộc, tôi đã để anh làm cho mình một cốc Old Fashioned, và anh lại khăng khăng để nhà hàng trả. Tôi dành một giờ tiếp theo nhấm nháp ly rượu, giả vờ lướt web trên điện thoại, nhưng thực ra là đang theo dõi Brady từ khoé mắt. Anh không nói chuyện với tôi mấy vì tối nay quán rượu khá đông và anh cần phải phục vụ rất nhiều khách, nhưng cứ khoảng vài phút anh lại bắt gặp ánh mắt tôi và cười với tôi.
Tôi hồi tưởng lại buổi hẹn hò đầu tiên với Brady, cảm giác như đã từ một triệu năm trước. Đó là một buổi hẹn tử tế. Anh xuất hiện trước ngưỡng cửa căn phòng đơn của tôi với chiếc sơ mi trắng phau và thậm chí còn đeo cà vạt. Trông anh lóng ngóng cực kì với cái cà vạt ấy, và chẳng bao lâu sau khi chúng tôi đã ngồi xuống một cái bàn trong nhà hàng Ý mà anh đưa tôi tới, tôi đã vươn người sang bảo, “Anh có muốn tháo cà vạt ra không?”
“Ừ...” Ngón tay anh tự động đưa lên chỗ nút thắt. “Có gì sai với nó à?”
“Trông như anh ghét nó cực kì.”
“Anh...” anh giật cái nút. “Đúng, em nói đúng. Anh ghét nó.”
“Thế sao anh còn đeo?”
“Anh muốn gây ấn tượng với em.” Anh đã cười bẽn lẽn. “Có vẻ như không tác dụng nhỉ.”
Nhưng điều thú vị là nó đã có tác dụng. Thằng nhóc mà tôi hẹn hò lần gần nhất đã xuất hiện trong chiếc áo thun và quần bò. Như thế thì cũng không có gì sai, nhưng tôi vẫn yêu sự nỗ lực của Brady. Tôi yêu cái cách anh chấp nhận mang chiếc cà vạt dù không thoải mái, chỉ để gây ấn tượng với tôi. Hầu hết các cậu sinh viên sẽ chẳng buồn làm thế. “Em thì nghĩ là nó có tác dụng nhiều hơn anh tưởng. Nhưng anh vẫn có thể tháo nó ra.”
“Không đời nào,” anh nói. “Nếu có tác dụng thì anh cứ để nó ở đó.”
Anh thật dễ thương. Tôi nhớ là mình đã thực sự thích anh. Không đến mức thốt ra lời yêu thương hay thậm chí là gần như thế, nhưng tôi thích anh nhiều hết mức tôi có thể thích một người nào đó.
Vì cái quái gì mà tôi lại chia tay anh chứ? Tôi thực sự không thể nhớ được. Việc đó làm tôi phát điên.
Khi một tiếng đã hết và một người pha rượu khác tới để làm thay Brady, tôi thực sự đã nhảy bổ ra khỏi ghế. Anh đi tới chỗ tôi, chà tay vào quần bò. “Sẵn sàng chưa?”
Tôi gật. “Anh sống cách đây bao xa?”
“Mười phút. Anh ở ngay bên El Camino.”
Trong một giây tôi đã cân nhắc đến chuyện có nhờ anh đưa tôi tới chỗ anh và quay lại đây sau đó được không. Nhưng không, tôi muốn có xe ô tô ở bên mình.
“Em sẽ đi theo anh,” tôi nói.
“Được,” anh bảo. “Cho anh số điện thoại của em.”
Tôi nheo mắt với anh. “Số của em ư? Để làm gì?”
“Chúng ta nên trao đổi số điện thoại phòng khi em không tìm được chỗ của anh chứ.”
Tôi thả điện thoại vào trong túi và cầm nó khư khư trước ngực. “Em sẽ tìm được anh. Em không lo lắng quá đâu. Có phải chuyện mổ não gì đâu.”
“Hừm. Anh đoán là em sẽ biết.”
“Vâng, em biết.” (Tôi coi phẫu thuật não là một chuyên ngành, nhưng tôi không thích cắt vào hộp sọ như cắt vào ổ bụng.)
Anh thở dài. “Em không muốn anh có số của em. Anh hiểu rồi. Nhưng ít nhất thì để anh cho em số của anh. Được không?”
Thôi được. Tôi lấy điện thoại ra khỏi túi và cho phép anh đọc số điện thoại của mình. Tôi lưu lại nó dưới tên anh, cẩn thận để không vô tình bấm phải nút gọi, bởi ngay lúc đó là anh sẽ có được số của tôi. Tôi sẽ không bao giờ gọi cho anh cả.
Anh sống cách quán Christopher khoảng mười phút lái xe về phía nam, ngay đường biên với San Jose. Khu vực anh ở yên tĩnh nhưng đã hơi xập xệ. Các ngôi nhà trông có vẻ xuống cấp, thảm cỏ gần như cần được bảo trì đồng loạt. Rất may, tôi không có cái xe sang chảnh như kiểu của Philip, nếu không chắc tôi sẽ lo nó bị trộm mất.
“Em đỗ ngoài này được chứ?” tôi hỏi Brady khi ra khỏi xe mình sau xe anh.
“Ừ. Đừng lo.”
Tôi nhìn qua ngôi nhà nhỏ mà chúng tôi đang đỗ xe trước cửa. Nó là một căn nhà cũ sơn màu be, cũng bị xuống cấp như các căn khác trong cùng dãy, với lớp sơn đã bong tróc và một cửa sổ bị bịt kín ván. Bậc tam cấp tráng xi măng dẫn lên cửa chính thì đã vỡ nhiều. Trên hàng hiến có một chiếc ghế bập bênh, đang khẽ lắc nhẹ. Trong một thoáng tôi đã tưởng trên đó không có ai. Nhưng rồi tôi nhận ra hình dáng của một cơ thể gầy mòn trên ghế. Mái tóc bạc sáng lên trong ánh trăng.
Brady giơ tay lên chào. “Chào bà Chelmsford.”
Bộ xương giơ bên tay phải lên, nhưng không nói một lời. Dù bên ngoài trời không lạnh lắm, tôi vẫn rùng mình.
“Bà Chelmsford sở hữu ngôi nhà này,” Brady giải thích với tôi khi chúng tôi đi bộ vòng ra sau nhà. “Nhưng bà cụ đã hơi lẫn và ký thoả thuận cho thuê phòng qua cháu gái bà. Bà chỉ ngồi trên hiện này suốt thôi ấy. Rất may anh có lối vào riêng.”
Tôi không biết điều gì đã làm tôi khó chịu trước hình ảnh một bà già đung đưa trên ghế ngồi trên hiên như thế. Có thể là vì bà lặng lẽ và im ắng đến vậy. Nếu bà không giơ tay lên chào, tôi còn không chắc bà còn sống hay không.
Anh giật mở cánh cửa lưới, rồi tra chìa khoá vào ổ để mở cửa bên trong. Có cầu thang bên trong, và anh vẫy tay ra hiệu cho tôi đi theo anh lên bậc thang vừa tối vừa hẹp ấy. Tôi không bị chứng sợ không gian hẹp, nhưng tôi vẫn mừng khi chúng tôi đến được trước cửa phòng anh.
Căn hộ của Brady nhỏ gọn, việc đó không có gì ngạc nhiên khi xét đến kích thước của ngôi nhà. Tôi nhìn quanh, ghi nhớ khu tiếp khách nhỏ xíu với một cái đệm futon đã cũ xì và một chiếc ghế bành trông như nó được giải cứu khỏi lề đường vậy. Brady nhìn biểu cảm của tôi.
“Anh đã không xí được phần những đồ gỗ tốt nhất khi bọn anh ly dị,” anh nói. “Thực ra thì anh chẳng được gì cả.”
“Không thành vấn đề,” tôi nói. Và đúng vậy thật.
“Để anh dẫn em đi một vòng.” Anh vẫy tay với phòng khách. “Đây là phòng khách. Hiển nhiên rồi. Bếp đằng đó. Căn phòng bên tay phải là phòng ngủ của anh. Phòng tắm ngay kế bên nó.” Anh khịt mũi. “Và giờ thì chắc em đang ước kiểu giá mà chúng ta đã tới chỗ của em hả.”
“Không, em không ước thế.”
“Đúng rồi. Bởi vì khi đó thì anh sẽ biết em sống ở đâu.”
Tôi nhăn mặt vì anh đã nói trúng tim đen. Đây là chuyện chỉ xảy ra một lần. Tôi không muốn anh có số của tôi và tôi không muốn anh xuất hiện trước cửa nhà tôi.
“Cũng được,” anh nói. “Thật đấy.”
Tôi gật đầu về hướng hành lang, vào một cánh cửa khác có vẻ như đã bị đóng. “Phòng kia là gì?”
Anh ngập ngừng chỉ một giây. “Đó là văn phòng anh. Anh từng dùng nó khi vẫn còn làm việc cho công ty khởi nghiệp kia.” Anh hắng giọng. “Anh lấy cho em chút gì để uống nhé? Nước không?”
“Không, cảm ơn anh.”
“Bia nhé? Hay...” Anh mở tủ lạnh ra và nhìn vào trong. “Anh có thể còn ít vodka hay gì đó.”
Tôi đi vào bếp và đặt tay lên vai anh. Anh ngừng công cuộc tìm rượu của mình giữa chừng, đóng cửa tủ lạnh và quay sang nhìn tôi. Tôi thấy ngực anh phồng lên hạ xuống một lát, trong lúc anh nhìn đăm đăm vào mắt tôi.
Rồi anh cúi xuống và hôn tôi.