Chương 16
15.
Hai mươi phút sau, tôi bước từ gara vào ngôi nhà trống vắng của chính mình. Tiếng dép của tôi vang vọng khắp phòng với mỗi bước chân trên sàn gỗ cứng.
“Cưng ơi, em về rồi!” tôi gọi.
Tôi đứng ở tiền sảnh, không thể bước tiếp. Tôi nhắm mắt lại và tưởng tượng một cuộc đời khác. Ở đó tôi cũng sẽ nói những lời này, và ai đó khác – ai đó như Brady – sẽ bước ra chào đón tôi. Sẽ vòng cánh tay ôm tôi và kể tôi nghe anh đang nấu bữa tối trên bếp.
Tôi gạt những ảo tưởng lố bịch của mình sang bên và vào bếp. Bụng dạ tôi co thắt vì đói. Đáng lẽ ra tôi nên để Brady gọi cái pizza ấy. Tôi có ở lại đó thêm một giờ nữa thì có gì khác biệt đâu chứ? Có khi còn hay...
Không. Tôi đã đúng khi bỏ đi. Tôi không thích con người mình khi ở bên anh chút nào. Nó làm tôi sợ.
Máy tính của tôi vẫn để trên bàn bếp, nơi tôi bỏ lại nó đêm qua. Mặc dù đang đói ngấu, tôi vẫn đi thẳng đến chỗ máy tính. Tôi mở màn hình lên và vào thanh tìm kiếm Google. Mặc dù không nên chút nào, tôi vẫn gõ cái tên Brady Mitchell vào.
Đây là một hành động hoàn toàn vô ích, nếu xét đến chuyện tôi sẽ không bao giờ gặp lại anh. Thật nhẹ cả người khi thấy anh cực hạn chế xuất hiện trên mạng xã hội. Anh đã không đăng tweet linh tinh về chuyện muốn bắn tung cả cái trung tâm thương mại. Có vẻ như anh còn chẳng có tài khoản Twitter. Anh chỉ có một trang Facebook, và những bức ảnh chụp anh hoàn toàn bình thường, tử tế. Nhưng đó là tất cả những gì tôi thấy được vì trang hồ sơ đã bị khoá.
Cũng hợp lý thôi, vì Brady tử tế thật. Có lẽ tôi đã phạm sai lầm khủng khiếp khi chạy khỏi đó như vậy. Nhưng nếu tôi muốn, tôi có thể gọi cho anh. Và cái thực tế tôi đang không với tay lấy điện thoại của mình đã đủ nói lên nhiều.
Tôi đóng trình duyệt web đang tìm kiếm Brady lại và mở một thanh tìm kiếm mới. Lần này tôi gõ vào một cái tên khác: Amber Swanson.
Trang web đầu tiên hiện lên là một bài báo. Thi thể nhân viên tổng đài ngân hàng hai mươi lăm tuổi được tìm thấy trên sông San Joaquin.
Tôi nhanh chóng đọc lướt các chi tiết. Hầu hết thông tin viên thanh tra đã kể tôi rồi. Xác của Amber được một nhóm thanh thiếu niên tìm thấy sáng sớm hôm nay. Lần cuối người ta thấy cô là hai ngày trước và cô đã không đến chỗ làm kể từ hôm đó. Pháp y báo cáo cô đã chết được khoảng một ngày.
Và là giữa thời điểm biến mất và chết, cô gái đã bị giữ ở đâu đó. Còn sống.
Bài báo cũng nhắc tới chuyện thi thể được tìm thấy với hai bàn tay đã bị cắt lìa. Họ không nhắc gì đến mối liên hệ với Aaron Nierling. Mà tại sao phải nhắc? Ông ta đang ở tù. Mười tám án chung thân, chắc chắn là không có cơ hội được bảo lãnh.
Đây chỉ là trùng hợp. Ngoài kia đầy kẻ bệnh hoạn làm những việc bệnh hoạn.
Tôi nhắm mắt lại và cố nhớ ra Amber. Cô gái đã hơi mất bình tĩnh trước cuộc phẫu thuật, nhưng lại rất ngọt ngào trong buổi khám hậu phẫu. Giống Callahan, cô ấy đã cảm ơn tôi vì cứu mạng cô. Chị đã làm tốt lắm, Bác sĩ Davis. Vết sẹo thì bé tí xíu! Tôi hoàn toàn có thể giấu nó dưới bikini.
Giống Callahan, tôi đã quyết định sẽ mổ phanh thay vì làm nội soi. Đó luôn là phương pháp ưu tiên của tôi nếu tôi có lựa chọn.
Tôi nhấp chuột vào một đường link khác, nó dẫn thẳng tới trang mạng xã hội của Amber. Có một bức ảnh cô gái mặc bikini, ngồi trên bãi biển, với cặp kính Ray-Ban trên sống mũi. Cô đang cười tươi tắn với máy ảnh. Trông cô thật trẻ trung và hạnh phúc. Còn biết bao năm tháng cuộc đời ở phía trước.
Tôi hi vọng họ bắt được kẻ nào đã làm việc đó với cô gái. Tôi hi vọng kẻ đó phải vào tù thật lâu.
Tôi nghe tiếng thình vọng lại từ cửa sau. Lại là chú mèo. Tôi đóng nắp máy tính và đứng dậy để lấy hộp thức ăn mèo. Lần này vị thịt bò. Trời đã muộn – chắc con vật tội nghiệp phải đói ngấu rồi.
Thình.
“Được rồi, chị ra đây!” tôi gọi ra. Không hẳn vì mèo hiểu được tôi. Tôi không hề biết mèo thì hiểu được những gì, dù chú mèo cụ thể này thì đôi khi có vẻ rất thông minh.
Tôi giật cái nắp khỏi hộp thức ăn mèo và thả nó vào thùng rác. Tôi mở cửa hậu và...
Không có gì ở đó. Không có mèo.
Tôi nhìn ra khoảng sân sau đang chìm trong bóng tối nhà mình. Tôi không thấy gì hết. Tôi bước hẳn ra ngoài, đáng lẽ việc đó phải làm đèn tự động bật lên, nhưng nó không bật. Đèn bị hỏng chăng? Tôi không nhớ được lần cuối mình ra ngoài sân sâu lúc tối đêm thế này là khi nào.
Tôi dừng bước trong cái sân tối om, lắng nghe. Không thấy tiếng meo meo nào.
Tôi không nghe thấy gì cả.
“Hế lô?” tôi nói. “Meo meo?”
Không có âm thanh nào.
Tôi quay vào trong nhà và đóng sầm cửa lại sau lưng. Rồi tôi khoá chặt. Tôi có một cái khoá chết ở cửa trước, nhưng cửa sau thì không có gì. Nghe có vẻ thật ngốc nghếch khi cửa trước thì khoá kềnh khoá càng trong khi cửa sau về cơ bản chỉ cần đá một cái cũng mở. Nhưng tôi sống ở một khu dân cư rất an toàn. Không hề giống chỗ Brady ở.
Tôi thả cái hộp thức ăn mèo lên bàn bếp và tự ôm lấy mình. Bên ngoài lạnh toát. Chẳng mấy chốc mùa đông sẽ đến, và nhiệt độ có thể hạ xuống tầm bốn độ vào ban đêm.
Ở Oregon còn lạnh hơn nữa. Hầm nhà chúng tôi lúc nào cũng lạnh cóng. Nếu không phải thế thì mùi thối chắc đã tồi tệ hơn và chúng tôi hẳn đã chú ý đến nó sớm hơn. Thứ mùi đáng lẽ đã át được cả mùi oải hương.
Tôi nhìn xuống sàn nhà bếp và đó là lúc tôi trông thấy một lá thư ở cách cửa hậu vài chục phân. Nó nằm trên mặt đất như thể ai đó đã trượt nó qua khe cửa. Tại sao lại có người trượt một lá thư qua cửa hậu nhà tôi kia chứ?
Tôi thò tay xuống cầm lá thư lên. Ngay lập tức tôi trông thấy cái tên quen thuộc kia trên địa chỉ bồi hoàn: Aaron Nierling.
Không.
Làm sao có thể? Đúng là ông ta đã gửi thư cho tôi hàng tuần. Nhưng những lá thư ấy đi qua bưu điện. Chắc ông ta đã thả nó vào hòm thư ở trại giam, rồi nó được chuyển tới chỗ tôi. Chứ chúng không kết thúc bằng cách được trượt vào qua cửa hậu nhà tôi. Đó là một điều không bao giờ được xảy ra. Mặc dù có địa chỉ bồi hoàn và cả tem trên thư, không hề có dấu bưu điện nào ở phong bì này cả.
Tôi ngồi phịch xuống ghế ở bàn bếp. Bàn tay cầm lá thư run lẩy bẩy. Cái này không có lý gì hết.
Tất nhiên, có thể tôi đang nghiêm trọng hoá. Có thể lá thư này cũng đến cùng thư tín bình thường của tôi. Khi tôi thả cả đống lên bàn bếp, cái này đã bị rớt xuống sàn. Và tôi đã không trông thấy nó mãi đến bây giờ. Cũng có thể bằng cách nào đó người ta đã bỏ qua không cộp dấu bưu điện lên nó.
Có thể. Cực kì khó xảy ra, nhưng có thể.
Tôi phải tin vào nó vì khả năng thay thế đáng sợ đến mức không thể nghĩ tới.
Tôi lại vươn tay lên máy tính. Tôi gõ địa chỉ trang web của Cục Trại giam từ trong trí nhớ, tôi đã từng gõ nó biết bao lần trước đây. Tôi tới thanh danh mục và chọn định vị một phạm nhân liên bang bằng tên. Hai tay tôi run rẩy đến nỗi phải mất ba lần thử tôi mới gõ đúng tên Aaron Nierling.
Đó là một cái tên đủ lạ để chỉ có duy nhất một kết quả trả lại:
Tên: Aaron Nierling
Tuổi: 67
Sắc tộc: Da trắng
Giới tính: Nam
Ngày được thả: Không
Vị trí: Nhà tù Tiểu bang Oregon
Theo thông tin của Cục Trại giam, cha tôi vẫn còn trong tù. Không hề có ngày được thả. Nếu ông ta đã trốn trại hay gì đó, tôi phải biết, đúng không nào? Một chuyện như thế hẳn phải lên tất cả các tin tức.
Thanh tra Barber đã cho tôi danh thiếp. Tôi có thể gọi ông ta. Kể cho ông ta nghe về lá thư.
Nhưng có điều gì đó đã ngăn tôi làm vậy. Khi Barber đến gặp tôi lần trước, ông ta chỉ đang làm việc tỉ mỉ. Ông đang điều tra một đầu mối mù mờ. Ông không thực sự nghĩ tôi có bất kì điều gì liên quan đến cái chết của Amber.
Nhưng nếu tôi gọi cho ông... nếu tôi cho ông ta xem lá thư này... Nó sẽ thay đổi lối suy nghĩ của ông.
Tôi không biết ai đã giết Amber Swanson, nhưng đó không phải là cha tôi. Cha tôi đang đi tù chung thân. Tôi chắc chắn lá thư này chỉ bị rơi ra sàn, và đó là lý do vì sao nó ở đó. Không có gì ác ý hơn thế cả. Còn chuyện tiếng thình ở cửa, tôi chắc chắn con mèo đã nghe tiếng con gấu trúc Mỹ hay gì đó và bị doạ chạy mất trước khi tôi ra tới nơi. Tôi chỉ đang làm quá lên về mọi việc mà thôi.
Tôi nhìn chằm chằm vào lá thư. Mỗi tuần trong suốt hơn hai mươi lăm năm qua, ông ta đều gửi cho tôi một lá. Khi bà ngoại tôi thú nhận rằng bà đã ném hết chúng đi, đầu tiên tôi tức giận với bà. Bà có quyền gì mà làm như thế?
Hắn là một con quỷ, Nora à, bà đã bảo tôi. Chuyện hắn nuôi dạy cháu suốt mười một năm đã đủ tệ lắm rồi. Bà không muốn hắn đầu độc cháu thêm nữa.
Bà là mẹ của mẹ tôi. Bà đã đón nhận tôi khi cha mẹ tôi bị bắt, và bà giữ tôi lại nuôi sau khi cha tôi bị kết án và mẹ tôi tự sát. Cả hai đều đã rũ bỏ tôi theo cách của họ, nhưng bà là người ở lại vì tôi.
Nhưng tôi vẫn luôn có cảm giác bà không hoàn toàn tin cậy tôi. Đôi khi tôi bắt gặp bà đang nhìn tôi như thể sợ tôi vậy.
Bà không phải là người duy nhất.
Chưa bao giờ có bất kì nghi ngại nào về việc liệu tôi có đổi họ hay không. Tôi không muốn làm Nora Nierling nữa. Thật nhẹ nhõm khi được bỏ lại cái tên đó sau lưng.
Đó là tất cả những gì tôi từng muốn. Được bỏ lại ông ta sau lưng.
Tôi lại nhìn xuống lá thư. Tôi xé nó làm đôi. Rồi xé tiếp làm đôi. Bất kể ông ta định nói gì, tôi cũng không muốn biết.