17. HIỆN TẠI
Hầu như ngày nào tôi cũng chỉ có tầm năm đến mười phút giữa các ca phẫu thuật để ăn tạm chút gì đó. Hôm nay, tôi có trọn một giờ, đây là khoảng thời gian xa xỉ mà lâu lắm rồi tôi chưa có. Ai đó chắc đã làm nhầm lịch, nhưng tôi không phàn nàn. Tôi tranh thủ lúc này để chạy qua một quầy thuốc.
Tôi thu hút vài cái nhìn trong lúc lang thang giữa các dãy kệ thuốc trong bộ quần áo phẫu thuật, nhưng ít nhất lần này tôi nhớ tháo ủng. Tôi thường mua mọi thứ mình cần trên mạng, nhưng sau cái vụ nổi đoá ngày hôm qua vì xà phòng oải hương, tôi cảm thấy mình nên thay thế nó ngay hôm nay. Nếu không Philip lại mang về thêm oải hương nữa. Rồi có khi tôi lại nổi khùng lên.
Dãy xà phòng ở tuốt cuối cửa hàng. Có quá nhiều nhãn hiệu đến nỗi làm đầu người ta quay quay. Thậm chí tôi còn không trông thấy xà phòng oải hương. Quả là vận may của tôi khi Philip lại chọn đúng cái thứ mùi tôi ghét nhất trần đời. Cái mùi đó vẫn làm bụng dạ tôi quặn lên sau từng ấy năm.
Thậm chí giờ chỉ nghĩ về nó thôi tôi đã muốn nôn rồi.
Cuối cùng tôi vớ lấy một chai gì đó quảng cáo là có mùi sữa và mật ong. Nghe có vẻ hoàn hảo. Mùi gì cũng được. Tôi thà chọn mùi tất thối còn hơn là oải hương.
Tôi cầm lấy chai xà phòng sữa và mật ong rồi đi ra quầy thanh toán. Ngay lúc đi tới cuối dãy tôi suýt đâm sầm vào một người phụ nữ luống tuổi đang đẩy xe.
Người này có gì đó rất quen thuộc. Có gì đó ở thân thể mảnh khảnh và duyên dáng của bà, mái tóc bạc, chiếc váy xếp nếp như kiểu váy ngủ. Tôi ngần ngừ một lát, cầm chặt chai xà phòng sữa và mật ong, cho đến khi đôi môi khô nẻ của bà tách ra và bà nói, “Cô là bạn gái mới của Brady.”
Thế là rõ rồi. Bà chính là cụ già đã ngồi trên hiện khi tôi mới tới. Bà Chelmsford, anh đã gọi bà như thế. Trong ánh sáng ban ngày trông bà càng già và mong manh hơn cả lúc ngồi trên hiên tối hôm qua.
“Tôi không phải bạn gái anh ấy,” tôi lẩm bẩm. “Chỉ là bạn thôi.”
Bà Chelmsford nhìn lên nhìn xuống tôi bằng cặp mắt xanh mờ đục. Tôi đã gặp nhiều người già bị lẫn và loạn thần trong suốt những năm qua, và người phụ nữ này cũng có cái kiểu như thế. Tôi hi vọng bà không cố nấu nướng gì trong ngôi nhà đó nếu không bà có thể đốt trụi nó mất. Tôi nên cảnh báo Brady. Tất nhiên, như thế tức là tôi lại phải nói chuyện với anh lần nữa, vốn là điều tôi đã nghĩ sẽ không xảy ra.
“Cô phải cẩn thận với Brady,” bà thì thào cao vút với tôi.
Tôi chớp mắt. “Gì kia?”
“Cậu ta nguy hiểm.” Bà hạ giọng thêm một chút. “Tôi nghe thấy tiếng thét từ trên gác vào ban đêm. Tiếng phụ nữ thét. Xin cứu giúp.”
Tôi mở miệng nhưng không lời nào phát ra. Trước khi tôi kịp định thần phải nói gì, một người phụ nữ trung tuổi đã xuất hiện từ dãy hàng khác và chộp lấy vai bà cụ.
“Dì Ruth!” người trẻ hơn mắng bà. “Đừng đi lung tung thế! Cháu không tìm được dì.” Bà nhìn tôi hối lỗi. “Tôi hi vọng bà ấy không làm phiền gì cô.”
Tôi lắc đầu trong im lặng.
“Đêm qua, cô ta ghé thăm Brady,” bà Chelmsford giải thích với cô cháu. “Tôi phải cảnh báo cô ta.”
“Brady là một người bạn thôi ạ,” tôi vội giải thích.
“Dì Ruth, đừng có làm phiền cô y tá tội nghiệp nữa.” Cháu gái bà cười với tôi. “Xin lỗi cô nhé. Thỉnh thoảng, bà ấy rất lú lẫn và có nhiều ý tưởng kỳ quái trong đầu.”
“Vâng,” tôi nói. “Tất nhiên rồi. Đừng lo gì cả.”
Cô cháu gái dẫn bà Chelmsford đi, nhưng tôi vẫn đứng đó, tóm chặt chai xà phòng sữa và mật ong. Tất nhiên, mọi điều bà nói đều lố bịch. Bà đã lẫn lắm rồi – tôi đã gặp nhiều trường hợp trong nghề của mình. Những người bị loạn thần vẫn tưởng tượng suốt.
Nhưng những lời của bà ta đã đánh trúng một điểm. Đặc biệt là sau khi trông thấy cánh cửa khoá kín trong căn hộ của Brady.
Tôi nghe tiếng thét vọng từ trên gác vào ban đêm. Tiếng phụ nữ thét. Xin cứu giúp.
Nhưng không thể nào. Tôi không tin. Bà già này đang gặp ảo giác. Có thể hồi trẻ Brady từng thích phim máu me và anh nghĩ ăn mặc như một tên sát nhân hàng loạt thì trông khá hay ho, nhưng anh sẽ không nhốt phụ nữ trong phòng trống ở nhà mình để tra tấn họ. Không thể được. Tôi biết anh đủ rõ để hiểu là anh sẽ không làm thế.
Mà thế nào thì tôi cũng không bao giờ gặp lại anh nữa. Nên không ích gì khi nghĩ ngợi về chuyện này.