Chương 3
02.
Tôi lái một chiếc Toyota Camry màu xanh lục. Nó là một cỗ xe tốt, thiết kế thực tế, màu sơn dễ chịu, bóng loáng không xước xát. Đồng sự của tôi, bác sĩ Philip Corey mới mua một chiếc Tesla màu đỏ năm ngoái. Khi tôi đặt biệt danh cho nó là “xe khủng hoảng tuổi trung niên”, Philip chỉ nháy mắt với tôi. Anh ấy rất thích đưa chiếc Tesla lên xa lộ và để nó tự lái. Khi bạn vào cùng một chiếc xe với Philip là bạn đang chơi đùa với mạng sống của mình.
Tôi thì chẳng khủng hoảng tuổi trung niên gì cả. Tôi chỉ cần một cỗ máy an toàn để đi từ điểm A đến điểm B với càng ít sự phô trương càng tốt.
Bãi đỗ xe của quán Christopher lặng ngắt như tờ khi tôi chui vào ghế lái của chiếc Camry. Tôi khởi động và tiếng nhạc giao hưởng tràn đầy trong xe, bản Dạ khúc cung Đô trưởng của Chopin. Tôi từng chơi piano, và tôi đã tập bản này cho một buổi trình diễn ở trường trung học. Cảm giác như chuyện đó đã xảy ra từ kiếp trước. Tôi đã không chạm đến phím đàn trong ít nhất một thập kỷ rồi.
Tôi quay ra đường. Phố phường yên tĩnh như nó vẫn luôn thế vào các tối cuối tuần. Tôi thả chân ga, vẫn chọn các phố nhỏ để về nhà như mọi lần.
Sau khoảng hai phút lái xe, tôi để ý thấy đôi đèn pha đằng sau mình.
Chuyện ấy không nhất thiết phải có một ý nghĩa nào đó. Có xe ô tô đang đi sau tôi. Thì sao nào? Nhưng thường thì tôi là người duy nhất lái xe trên các phố nhỏ vào giờ này. Thông thường sẽ chỉ có tôi và những vì sao đưa lối. Có lẽ có cả mặt trăng, tuỳ vào thời điểm trong tháng.
Hơn nữa, chiếc xe này đang đi theo tôi rất sát. Tôi đang vượt giới hạn tốc độ ít nhất mười sáu kilomet trên con đường nhỏ này, thế mà cặp đèn pha kia có lẽ chỉ cách tôi chưa tới mười mét. Nếu tôi dừng đột ngột, gần như chắc chắn nó sẽ húc vào đuôi tôi.
Tôi nghi ngờ chiếc xe này có thể đang cố ý theo tôi. Nhưng chỉ có một cách duy nhất để biết chắc.
Tôi đi đến một ngã ba. Tôi bật xi nhan trái. Ngay khi tới ngã ba, tôi bắt đầu rẽ sang trái. Nhưng ở giây cuối cùng tôi đánh lái sang phải.
Tôi dán mắt vào gương chiếu hậu trong suốt thời điểm đó. Tôi nhìn cặp đèn pha sau mình khi nó cũng bắt đầu chuyển làn trái, rồi bắt đầu rẽ trái ở ngã ba trong lúc tôi đánh lái sang phải. Và rồi, chiếc xe đỗ kít lại. Nó lùi lại rồi cũng rẽ phải ở ngã ba.
Tôi hít vào thật mạnh, hai bàn tay siết chặt vô lăng. Chiếc xe kia chắc chắn là đang đi theo tôi rồi. Tên khốn ấy đang đi theo tôi.
Trong lúc tính toán động thái tiếp theo của mình, một ý nghĩ lướt qua đầu tôi. Một điều không phải là xa lạ mỗi khi tôi lâm vào cảnh khó khăn:
Cha tôi sẽ làm gì trong tình huống này?
Tôi lúc nào cũng có ý nghĩ đó, dù tôi luôn cố kìm nó lại. Tôi không muốn biết cha tôi sẽ làm gì hết. Và chắc chắn tôi không muốn làm điều tương tự như ông ta. Rốt cuộc, ông ta là người đang phải thi hành tới mười tám án chung thân trong tù cơ mà. Đấy không phải là thành tựu tôi muốn có.
Tôi có điện thoại trong túi áo, đang kết nối Bluetooth. Tôi có thể gọi cảnh sát. Tôi có thể cho họ biết vị trí của mình và chuyện một chiếc xe đang đi theo tôi. Nhưng tôi cũng không làm vậy.
Ở đoạn cua tiếp theo, tôi thường rẽ phải để về nhà. Nhưng hôm nay tôi rẽ trái. Chiếc xe sau tôi cũng rẽ cùng. Đèn pha chiếu sáng choang cả xe tôi khi chiếc xe kia tiến lại gần đến mức đáng sợ. Bọn họ thậm chí không cố giấu chuyện đang đi theo tôi. Khoảng cách giữa hai xe chỉ còn một nửa. Họ sắp lao thẳng vào đuôi xe tôi.
Rồi tôi thấy cái đích phía trước mặt mình. Đồn cảnh sát địa phương.
Tôi tấp xe vào bãi đỗ ở đồn cảnh sát. Tôi vẫn để mắt tới gương chiếu hậu, chờ xem người lái xe kia có đủ dũng khí đi theo tôi vào bãi đỗ của sở cảnh sát không. Nhưng thay vào đó, cặp đèn pha biến mất khỏi gương chiếu hậu của tôi, đúng như tôi nghĩ. Khi tôi dừng hẳn vào một ô đỗ, tôi thấy chiếc xe đã theo đuôi mình lái vụt qua.
Đó là một con Dodge màu xanh có vết lõm ở chắn bùn sau.
Tôi ngồi trong bãi đỗ xe của đồn cảnh sát hết mười phút tiếp theo, nhìn ra đường, đảm bảo chiếc xe đã đi theo tôi khuất dạng. Đây không phải chỗ mà tôi thích. Tôi nhớ lần đầu tiên mình ghé một đồn cảnh sát. Hồi tôi mười tuổi. Cha tôi đã bị bắt. Cảnh sát có cả tấn câu hỏi cho tôi.
Nora, cha cháu có phòng làm việc trong tầng hầm được bao lâu rồi?
Nora, mẹ cháu có bao giờ đi xuống đó không?
Nora, có chỗ trốn bí mật nào khác trong nhà cháu không?
Nếu là người phụ nữ nào khác, chắc họ sẽ đi thẳng vào đồn. Nhờ được hộ tống về nhà. Trình báo Henry Callhan vì đã theo đuôi. Nhưng với tôi thì chẳng ích lợi gì. Và ý nghĩ đi vào một đồn cảnh sát làm tôi thực sự buồn nôn. Sau tất cả những gì tôi phải trải qua trong từng ấy năm trước, tôi không bao giờ còn muốn bước chân vào đồn cảnh sát lần nào nữa.
Rốt cuộc, chỉ cần kiểm tra qua quýt là đã biết tôi chính xác là ai. Tôi không cần cái đó.
Sau khoảng mươi phút, tôi cảm thấy an tâm Callahan cuối cũng cũng đi thật. Quả nhiên, khi tôi quay lại đường thì mọi thứ lại yên tĩnh và vắng vẻ như cũ. Tôi mất thêm mười lăm phút nữa mới lái được về ngôi nhà hai tầng ấm cúng của mình ở Mountain View. Người môi giới bất động sản nói ngôi nhà này hoàn hảo cho một gia đình nhỏ, nhưng thực tình chỉ có tôi. Đã có lúc tôi nghĩ rồi sẽ có thêm người bầu bạn với tôi, nhưng khi ngẫm lại thì đó chỉ là một sự lừa mị.
Có hai phòng ngủ trên gác, và tôi dùng phòng ngủ thứ hai làm văn phòng tại nhà kiêm phòng cho khách. Máy giặt và máy sấy đặt dưới tầng hầm. Khi Philip ghé qua thăm không bao lâu sau khi tôi mua căn nhà này, anh ấy đã chun mũi và nhận xét tôi đủ tiền trả cho chỗ tốt hơn. Đúng, tôi có thể, nhưng tôi hạnh phúc ở đây. Tôi lang thang quanh căn nhà năm phòng ngủ làm cái quái gì khi chỉ một thân một mình? Có phải tôi sẽ sinh đủ số con để lấp hết mấy phòng đó đâu.
Tôi đi vào qua cửa gara. Cánh cửa âm vang khi nó đóng lại, và sau khi âm thanh đã tắt hẳn, căn nhà lại tuyệt đối yên lặng. Tôi đứng đó một lát, siết chặt chùm chìa khoá trong tay.
“Cưng ơi, em về rồi!” tôi gọi với ra.
Thật buồn cười, vì bạn biết đấy, tôi sống một mình.
Tôi đứng đó một lát, lắng nghe tiếng vọng từ giọng mình khắp căn phòng. Đôi khi tôi cũng lo ngại về việc sống một mình. Nếu ai đó vào nhà và đang phục sẵn tôi, ai mà biết được?
Nhưng khu dân cư này an toàn. Tôi thường không lo lắng về chuyện như thế.
Tôi đói ngấu. Nếu không phải xử lý vụ Henry Callahan cố doạ dẫm mình, chắc tôi đã tạt qua In-N-Out Burger trên đường về nhà – như một phần của quyết tâm đột tử vì truy tim của tôi trước tuổi năm mươi. Nhưng tôi đã lỡ cơ hội, nên tôi đi vào bếp để xem trong tủ lạnh có gì. Tôi cần ít thức ăn để hoà cùng với whiskey. Rồi có thể là thêm một cốc whiskey khác để trộn với thức ăn.
Không, tôi thực sự không nên. Đêm đã khuya và tôi cần phải dậy từ bình minh để mở cửa vào buổi sáng. Về cơ bản tôi không cần ngủ nhiều lắm, nhưng mí mắt tôi đã bắt đầu nằng nặng.
Khi mở tủ chạn trong bếp, tôi nghe một tiếng thịch. Rồi một tiếng thịch nữa.
Ai đó đang có chui vào từ cửa sau.
Thịch.
Tôi đã chờ ở đồn cảnh sát ít nhất mười phút. Henry Callahan đã đi mất. Ông ta không theo tôi về nhà – tôi chắc chắn như vậy. Tôi đã canh gương chiếu hậu suốt cả quãng đường và không thấy có chiếc xe nào đi sau mình. Nếu có thì tôi đã phải thấy, kể cả nếu đèn pha của nó có tắt. Tôi rất giỏi quan sát.
Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ nhưng chỉ thấy mỗi bóng tối. Không có ai ở đó.
Như đã nói, tôi sống trong một khu dân cư rất an toàn. Tất cả hàng xóm nhà tôi đều là tầng lớp trung lưu cơ bản, hầu hết bọn họ có con nhỏ. Mặc dù tôi không biết chắc, vì tôi còn chưa có cơ hội nào gặp ai cả. Tôi không thể nhắc nổi tên một người sống trong bán kính một cây số quanh mình, mặc dù tôi cho là mình sẽ nhận ra vài người trong số họ ngay khi trông thấy.
Tôi tưởng tượng điều họ sẽ nói nếu có mệnh hệ gì với tôi. Cô ấy có vẻ tử tế. Sống lặng lẽ. Luôn thui thủi một mình. Đó là điều mà mọi người vẫn luôn nói.
Thịch.
Tôi quay lại chỗ tủ cạnh bồn rửa. Tôi giật mở cánh cửa tủ và vơ lấy thứ tôi đang tìm trước khi quay lại với cửa sau. Tôi nhìn một lần cuối qua cửa sổ để xác nhận là không có ai ở đó. Rồi tôi vặn khoá cửa sau và mở toang cánh.
Ngay lập tức tiếng meo meo cất lên. Có một con mèo đen ở chân tôi, đang dụi cái đầu nhỏ lông lá vào ống quần tôi. Rồi cô nàng nhìn lên tôi khấp khởi hi vọng.
“Rồi, rồi,” tôi nói.
Tôi mở một hộp thức ăn mèo lấy từ trong tủ xuống và trút hết nó vào cái bát nhỏ mà tôi đã đặt sau cửa hậu. Con mèo này không phải mèo của tôi. Nó là mèo hoang. Đáng ra tôi nên gọi cho sở lưu trú động vật hay gì đó, nhưng thay vào đó, tôi mua một cái thùng thức ăn mèo. Và giờ thì rõ ràng là tôi đang cho mèo ăn.
Tôi nhìn con mèo liếm hết chỗ thịt gà nhuyễn đáng giá 60 cent. Nó tỏ ra biết ơn kinh khủng mỗi lần tôi cho nó ăn. Thậm chí còn biết ơn hơn cả Callahan biết ơn tôi vì đã cứu mạng ông ta ấy.
Cha tôi thì sẽ không làm vậy đâu. Ông ta sẽ không cho một con mèo hoang ăn. Ông ta chẳng bao giờ cứu mạng ai cả.
Tôi nhìn chú mèo ăn thêm vài giây nữa rồi đóng cửa hậu. Và khoá nó lại.
Mười phút sau, tôi ngồi xuống bàn bếp dùng bữa tối, vừa ăn vừa xem laptop. Tôi đăng nhập vào hệ thống hồ sơ điện tử của phòng khám. Tôi lướt qua vài mục, rồi thấy mình đang tìm kiếm hồ sơ của Henry Callahan.
Đúng như tôi đã nhớ. Viêm túi mật. Cần phải cắt bỏ túi mật. Mổ nội soi chuyển sang mổ phanh. Không có biến chứng hậu phẫu, phục hồi đúng chu trình.
Tôi nhấp chuột vào mục nhân khẩu. Nó liệt kê bảo hiểm y tế của Callahan. Số liên hệ khẩn cấp là của em trai ông ta, điều đó có nghĩa ông ta chưa kết hôn. Có thể ông ta sống một mình. Và ngay bên dưới tất cả các số điện thoại là địa chỉ nhà.
Ông ta sống ở San Jose trong một khu vực khá hoang vắng. Có vẻ như là nhà riêng. Không xa đây lắm. Tôi có thể đến đó trong vòng hai mươi phút.
Hừm.
Tôi lắc đầu và dập mạnh laptop. Tôi chộp vội cốc nước uống một ngụm to. Tôi ước mình đã có một ly Old Fashioned khác, nhưng đành phải uống tạm nước thôi.
Đống thư tôi lấy từ cửa vào đang được đặt gọn ghẽ ở giữa bàn. Tôi gạt laptop sang bên và bắt đầu phân loại chúng. Hai cái đầu tiên là hoá đơn – tôi thấy nản vì chúng vẫn được gửi đến, dù tôi trả toàn bộ hoá đơn của mình trên mạng. Cái tiếp theo mời gọi một khoản quyên góp chính trị. Phải rồi. Sau đó là danh mục cửa hàng bánh ngọt, mời chào đủ loại bánh trái.
Cái cuối cùng là từ cha tôi.
Tôi hít một hơi trong lúc nhìn đăm đăm vào hàng chữ viết tay bằng mực đen ở mặt sau phong bì. Ông ta có nét chữ rất đẹp. Gọn ghẽ và nghiêm cẩn, chữ nào chữ nấy cao chính xác như thể được đo bằng thước, lực bút mạnh luôn để lại dấu ấn trên trang tiếp theo. Tôi tự hỏi người đưa thư có chú ý đến cái tên trên địa chỉ trả về không. Nếu có, chắc hẳn ông ta nghĩ nó chỉ là trò đùa. Ít nhất nó cũng được để gửi Nora Davis. Tôi đã không còn làm Nora Nierling trong gần hai mươi sáu năm qua.
Ông ta đã viết những lá thư này cho tôi mỗi tuần kể từ ngày bị bắt. Tôi đã không biết về chúng trong một thời gian dài. Bà tôi thường ném chúng đi. Nhưng sau khi tôi rời nhà đi học đại học, các lá thư được gửi trực tiếp tới tôi.
Ông ta muốn nói gì với tôi nào? Ông ta có thể nói gì chứ?
Tôi thắc mắc ông ta có nghĩ về tôi không. Có lo lắng cho tôi. Mẹ tôi từng lo lắng cho tôi hồi tôi còn bé, nhưng bà đã ra đi lâu rồi. Không ai còn lo nghĩ gì cho tôi nữa. Không hẳn. Philip có lo lắng đôi chút, bởi nếu có gì xảy ra cho tôi, ai sẽ tiếp bệnh nhân thay anh ấy khi anh đi nghỉ đây? Nhưng anh ấy không lo lắng thực lòng.
Tôi nhìn chằm chằm vào thư một lúc lâu. Như vẫn làm mỗi tuần.
Và như vẫn làm mỗi tuần, tôi xé nó làm hai, rồi làm hai một lần nữa, và ném mấy mẩu vụn ấy vào thùng rác.
Mừng ngày kỷ niệm, Cha ạ.