Chương 32
31.
Suốt thời gian còn lại của ngày hôm đó tôi ở bệnh viện. Tôi có lịch mổ kín cả buổi chiều, mặc dù tạ ơn trời máy nhắn tin cấp cứu chỉ im lặng. Kể cả sau các ca mổ, tôi vẫn phải đi tìm một chỗ yên tĩnh để làm báo cáo phẫu thuật. Ngày hôm đó rất bận rộn – và tôi đang vượt lên dẫn trước trong cuộc đua với Philip.
Cuối cùng, khi đã xong việc, tôi rời bệnh viện ra bãi đỗ xe thì chợt nhớ ra là ô tô của mình vẫn còn nằm bẹp ở bãi đỗ của phòng khám. Sao tôi lại quên được kia chứ? Đáng lẽ tôi nên nhờ Harper lo vụ đó. Ngày mai tôi sẽ gọi xe cẩu tới. Ngay lúc này thì không thể.
Thế là tôi lại phải gọi một chiếc Uber khác để về nhà, trong lúc gà gật ngủ ở ghế sau. Tài xế đã phải gọi tên tôi – chắc là đến mấy lần – để đánh thức. Hôm nay quả là một ngày dài.
Rốt cuộc tôi cũng đã vào được bên trong cửa, cảm giác như đã năm ngày trôi qua từ lúc tôi thức dậy sáng nay. Tôi không chờ nổi để được hưởng một bữa tối yên lặng và cuộn mình trên giường. Tôi bật đèn lên và phòng khách hiện ra dưới ánh đèn.
“Cưng ơi, em về rồi!” tôi gọi to.
Nhưng thay vì sự im lặng thường thấy, cửa nhà tôi lại đầy tiếng meo meo.
Ồ phải rồi. Con mèo.
Con mèo đen đang đứng ngay cạnh chân tôi, ngước nhìn lên. Thấy chưa, việc tốt nào rồi cũng bị trừng phạt thôi. Tôi chỉ cố làm người tử tế và cho một chú mèo đói ăn, giờ thì tôi đã có hẳn một vị khách không mời. Tôi cần đưa con mèo ra khỏi nhà mình. Ngay bây giờ.
Nhưng ít nhất việc này cũng có thể làm được. Đầu tiên, tôi cần đuổi con mèo. Sau đó, tôi phải xử lý chiếc xe. Sau nữa cần gọi đến công ty lắp đặt báo động để gắn chúng lên mọi cánh cửa nhà tôi. Cả máy quay nữa. Nói thực, có lẽ việc đó phải làm trước. Nhưng đuổi con mèo đi có vẻ là một việc tôi làm được ngay bây giờ, thay vì chờ đến giờ hành chính.
“Được rồi,” tôi bảo con mèo. “Đã đến lúc ra ngoài kia.”
Con mèo chỉ nhìn tôi chăm chăm. Chết tiệt thật.
Tôi đang cố nghĩ xem làm cách nào dụ được con mèo ra khỏi nhà mình thì nghe tiếng chuông cửa. Tôi nhìn đồng hồ – gần chín giờ tối. Ai lại bấm chuông nhà tôi muộn thế này nhỉ?
Ôi Chúa ơi, có phải lại là cảnh sát không? Họ đã tìm thêm được bằng chứng gì đó kết nối tôi với các vụ án mạng? Tôi phải đặt số của Patricia lên danh sách gọi nhanh mới được.
Tôi vội chạy ra cửa và nhìn qua lỗ mắt thần. Tôi lùi lại một bước khi nhận ra người đang đứng đó. Brady. Chuyện quái gì thế này? Tôi đã chắc mẩm sẽ không bao giờ gặp lại anh ta nữa. Tôi mở chốt khoá và hé cửa ra.
“Chào Nora.” Chỉ mất một giây để đôi mắt nâu nhạt ấy chạm vào mắt tôi, rồi anh nhìn đi nơi khác. “Em thế nào?”
“Ổn hơn rồi.” Tôi tóm gấu áo bác sĩ, ước rằng mình đang mặc cái gì đó hấp dẫn hơn. “Anh làm gì ở đây?”
Anh giơ chìa khoá ra. “Anh sửa xe cho em rồi.”
“Anh làm rồi á?” Tôi nhìn qua vai anh, quả nhiên có chiếc Camry của tôi đang đỗ trên phố. Tôi muốn hôn chân anh luôn. “Cảm ơn anh rất nhiều. Anh không cần phải...”
Anh nhún vai. “Không có gì. Hôm nay anh rảnh, nên...”
Tôi chờ anh cười với tôi và yêu cầu được vào, nhưng ngạc nhiên là anh có vẻ dứt khoát. “Em nợ anh bao nhiêu?”
Anh không hề do dự: “Bảy trăm năm mươi đô la.”
“Để em đi lấy sổ séc.” Tay tôi vẫn ngập ngừng trên cửa. “Anh có muốn vào hay...?”
Anh đổi trụ giữa hai chân. “Anh... Anh nghĩ là mình cứ chờ ngoài này thôi.”
“Được rồi. Tất nhiên.”
Đúng là một cú tát vào mặt, sau cái cách anh ta cư xử trước mặt tôi như thế, nhưng tôi cố không thể hiện ra. Tôi hiểu anh ta đang cảm thấy thế nào. Đây là lí do vì sao tôi cực kỳ sợ việc phải kể với ai đó tôi thực sự là ai. Nếu tôi giữ một mối quan hệ đủ lâu, tôi sẽ phải kể với người ta sự thật. Và rồi họ sẽ bắt đầu nhìn tôi như cách anh ta đang nhìn tôi lúc này.
Tôi chộp lấy sổ séc và viết cho anh một tờ. Tôi chợt nghĩ ra trong lúc đang ký tên rằng đây rất có thể là lần cuối tôi trông thấy anh ta. Tôi sẽ không bao giờ quay lại quán Christopher nữa. Và tôi có cảm giác anh ta cũng sẽ không quay lại đó. Và ý nghĩ ấy... Nó khiến tôi buồn hơn mức tôi có thể tưởng tượng được. Tôi ước gì...
Dù sao, tôi đã không thể làm gì khác đi được. Cuộc đời tôi vốn thế rồi. Nhưng đôi khi tôi vẫn ước mình đã có một cuộc đời khác. Cha mẹ khác. Ước mình là kiểu người khác đi. Ai đó có thể dành nhiều năm cùng nằm cuộn tròn trên sô pha với Brady, cùng xem những bộ phim kinh dị, vì nó vui chứ không phải vì tôi là một kẻ biến thái cần phải đi trị liệu. Tôi ước mình là kiểu người có thể trải qua một đêm ở chỗ anh dù chỉ một lần duy nhất thôi.
Tôi quay lại cửa ra vào cùng tờ séc. Tôi đưa nó ra cho anh ta. “Của anh đây. Cảm ơn anh lần nữa.”
Anh cầm lấy tờ giấy từ tay tôi, ngón tay khẽ sượt qua ngón tay tôi. Tay tôi râm ran trước sự đụng chạm của anh. Chúng tôi cứ đứng đó một lát, nhìn nhau đăm đăm. Brady và tôi quả là có sợi dây kết nối. Anh cũng biết rõ điều đó như tôi. Tôi không muốn lần này là lần cuối được gặp anh. Tôi thực sự, thực sự không muốn.
“Nora.” Giọng anh khẽ lạc đi. “Nghe này, anh không thể làm thế. Anh không thể dính dáng với... ý anh là, con gái anh...”
“Không sao đâu.”
“Anh xin lỗi.”
“Em đã bảo không sao rồi mà.”
Chỉ có điều không phải thế. Tôi không biết tại sao sự cự tuyệt lần này lại đau đớn đến thế. Tôi đã từ chối anh trước cơ mà. Tôi là người bỏ chạy khỏi căn hộ của anh những hai lần.
Tôi hắng giọng. “Anh có cần đi nhờ không? Ý em là, em đoán anh đã lái đến đây bằng xe em.”
“Anh gọi xe rồi.” Anh gật đầu về phía một chiếc SUV trắng vừa tấp vào lề đường. “Nên anh đi luôn đây.”
“Được rồi.” Tôi siết hai tay thành nắm đấm. “Chúc ngủ ngon, Brady.”
“Chúc ngủ ngon, Nora.”
Nhưng ý của anh là tạm biệt.
Tôi đóng cửa lại sau lưng anh trước cả khi anh kịp tới chỗ chiếc xe đang đậu. Tôi hít một hơi run rẩy, gạt hết mọi suy nghĩ về Brady Mitchell ra khỏi tâm trí. Thế này tốt hơn. Chắc chắn anh là người tử tế, và rất giỏi chuyện giường chiếu, nhưng tôi không cần thêm sự phức tạp trong đời. Tôi không cần.
Thật sự.
Giờ Brady đã đi rồi, con mèo dường như muốn tiếm quyền thống trị. Nó chà cơ thể vào chân tôi và meo meo ầm ĩ. Nó đang đói. Rất may, tôi có cả tấn thức ăn cho mèo. Ít nhất tôi cũng có thể làm cho ai đó hạnh phúc.
Lúc tôi cầm hộp thức ăn cho mèo trong tay, một ý nghĩ chợt loé lên rằng đây chính là cơ hội hoàn hảo để đuổi con mèo. Tất cả những gì tôi phải làm là mang cái bát ra ngoài và nhanh chóng đóng cửa lại. Không đời nào con mèo cưỡng lại được thức ăn trong bát của nó đâu, dù có muốn ở lại bên trong đến đâu (vì lí do nào đi nữa). Tôi không hiểu sao nó lại muốn vào đây đến thế. Dường như không có ai khác muốn dây dưa nhiều với tôi.
Tôi đi ra cửa sau cùng hộp thức ăn và mở rộng cửa. Tôi đặt cái bát ra hẳn bên ngoài, rồi trút hết cái hộp vào đó. Con mèo ngập ngừng trên ngưỡng cửa, nhìn tôi bằng cặp mắt vàng khè.
“Đi nào, mèo!” Tôi nói.
Nó không nhúc nhích. Con mèo ngốc.
Tôi ngồi xổm xuống cạnh nó, gần đến mức còn ngửi thấy mùi thức ăn trong hơi thở của nó. “Nghe này,” tôi nói, “tao sẽ vẫn cho mày ăn. Tao hứa. Nhưng mày không thể ở lại đây được.”
Nó meo với tôi. Tôi đáng phải nhận cái đó vì đã cố lí sự với mèo. Từ chỗ ngồi xổm của mình trên sàn nhà, tôi chú ý thấy một chiếc phong bì trắng trên mặt đất. Nó bị đẩy nhẹ vào sát tường, đó là lí do vì sao lúc đầu tôi đã không trông thấy. Tôi đưa tay cầm nó, cảm giác rớt cả tim khi nhìn thấy tên người viết trên địa chỉ hoàn trả: Aaron Nierling.
Một lần nữa, không có dấu bưu điện trên đó. Tôi không thể tự lừa mình rằng lá thư này lại là kết quả của nhiều sự cố ngẫu nhiên nữa. Cách duy nhất để nó chui được vào nhà tôi là có ai đó đã trượt nó dưới khe cửa sau. Hay tệ hơn, họ đã bỏ lại nó trên sàn sau khi đã bày xong chỗ máu trong tầng hầm của tôi.
Tôi ước gì các cửa hàng bán đồ an ninh còn mở. Tôi cần gắn báo động vào mọi cánh cửa và mọi cửa sổ trong ngôi nhà này. Ngay sáng mai. Việc đầu tiên tôi làm.
Tôi lảo đảo đứng dậy. Tôi đã xé nát mọi lá thư cha tôi từng gửi, nhưng chúng là thứ ông ta đã gửi qua bưu điện. Không có cái nào trượt qua cửa sau nhà tôi cả.
Tôi phải xem nó nói cái gì mới được.
Tôi ngồi sụp xuống ghế ở bàn bếp. Nhìn chằm chằm vào nét chữ trên phong bì. Tôi đã quen với kiểu chữ của cha mình qua nhiều năm tháng, nhờ những lá thư đến hàng tuần. Đây là chữ của ông ta. Hoặc nếu nó là giả thì cũng đã làm tuyệt khéo. Nhưng tôi nghĩ nó tới từ cha tôi.
Tay tôi run rẩy trong lúc xé cái phong bì.
Chỉ có một tờ giấy. Gập làm ba. Tôi cẩn thận mở nó ra và nhìn vào một câu duy nhất viết trên tờ giấy:
Tới thăm ta, Nora.
Và bên dưới đó là chữ ký, “Bố.”
Tôi muốn làm việc tương tự như đã làm với mọi lá thư ông ta từng gửi cho tôi: xé nó thành mẩu vụn. Nhưng tôi không biết mình có còn phớt lờ ông ta được nữa không. Nếu tôi muốn tìm ra kẻ giết hai cô gái kia, chỉ có một cách duy nhất.
Tôi sẽ phải thăm tù cha tôi lần đầu tiên trong hai mươi sáu năm.