Chương 33
32.
Hồi còn bé, sau khi cha tôi bị bắt rồi bị kết án, tôi đã muốn đến trại giam để thăm ông. Tính đến thời điểm đó thì mẹ tôi đã tự sát rồi, và ông là bậc sinh thành duy nhất của tôi còn lại trên cuộc đời này. Tôi tha thiết muốn gặp ông.
“Có chết cũng không được,” hễ tôi nhắc tới chuyện này thì bà ngoại tôi lại nói vậy.
“Nhưng tại sao lại không?” Tôi phàn nàn. “Có phải là bố sẽ làm gì cháu đâu.”
“Bởi vì nó là một con quỷ và bà không thích cháu ở bất kì chỗ nào gần nó.”
“Nhưng ông ấy là bố cháu.”
“Nó chẳng là bố ai hết,” bà nói. “Đó là một con quỷ. Và nói chuyện với quỷ thì không có gì tốt đẹp cả.”
“Nhưng, bà ơi...”
“Không được là không được.” Và bà sẽ quay đi, ám chỉ câu chuyện đến đây là hết. Khi so sánh với mẹ tôi thì bà ngoại lại càng không phải là một người nồng ấm. Mặc dù đôi khi tôi thắc mắc liệu bà có trở nên dịu dàng hơn nếu gặp một đứa cháu ngoại khác không – một đứa không phải là con gái của tên sát nhân hàng loạt nổi danh nhất Oregon. “Nora, khi nào cháu mười tám tuổi, cháu có thể đi mà thăm nó. Nhưng trong lúc cháu vẫn còn sống dưới mái nhà này thì cháu không được gặp nó.”
Nhưng đến lúc tôi mười tám tuổi thì tôi đã khôn hơn nhiều rồi. Tôi đã biết làm con gái của Aaron Nierling là thế nào. Tôi đã hiểu được toàn bộ tác động của việc ông ta đã làm. Và vì lợi ích của chính mình, tôi biết tốt hơn mình phải tránh xa. Bà ngoại tôi đã đúng. Nói chuyện với kẻ đó thì không có gì là tốt đẹp cả.
Giờ đây, sau chừng ấy năm, ông ta đã tìm được cách thuyết phục tôi tới.
Tôi đặt một ghế trên chuyến bay sớm nhất rời sân bay San Francisco tới Portland ngày hôm sau. Từ Portland, tôi sẽ phải thuê một chiếc xe và lái tới Salem, nơi đặt nhà tù. Chuyến bay kéo dài một tiếng rưỡi, và cuốc lái xe là một giờ nữa. Tổng cộng, chuyến đi mất khoảng ba giờ.
Rồi tôi sẽ được gặp cha mình.
Tôi gọi điện trước để đảm bảo mình không phải đi xa thế mà chẳng để làm gì. Một phần trong tôi hi vọng sẽ có một trở lực nào đó với việc tôi đến thăm, nhưng nhân viên ở nhà tù Tiểu bang Oregon lại thông báo với tôi rằng tên tôi nằm trong danh sách khách được chấp thuận cho Aaron Nierling. Mặc dù người phụ nữ nói chuyện cùng tôi trên điện thoại có vẻ không ấn tượng lắm với ý định thăm tù của tôi.
“Aaron Nierling ư?” Giọng cô ta có vẻ hơi ghê tởm. “Cô chắc là muốn thăm ông ta chứ cưng?”
Những lời ấy khiến tôi rùng mình. Tôi tưởng tượng một giây phút nào đó trong tương lai, ai đó cũng sẽ hỏi câu y hệt về tôi. Brady chắc chắn sẽ né khẩn khỏi nơi này. Nếu tôi phải vào tù, tôi thực không nghĩ ra người nào sẽ tới thăm mình. “Tôi chỉ có vài câu hỏi cho ông ta,” tôi bảo cô ta. “Ừm, ông ta có nhiều khách thăm không?”
Cô ta khịt mũi. “Tôi nghe nói hồi ông ta mới vào đây có cả đám quái dị đủ kiểu cố xin vào gặp. Tất nhiên là cả phóng viên nữa. Nhưng ông ta không gặp ai hết. Còn bây giờ... tôi đoán là cơn háo hức ấy đã qua rồi.” Cô ta dừng lời tư lự. “Mặc dù ngoài kia đang có một tên bắt chước, đúng không nhỉ?”
Tôi vội vội vàng vàng cúp cuộc điện thoại ấy ngay sau đó.
Điều tiếp theo tôi làm là một việc tôi chưa từng bao giờ làm. Trong suốt những năm làm bác sĩ, tôi chưa bao giờ báo nghỉ ốm. Thà tôi lê cái xác chết một nửa của mình tới chỗ làm còn hơn là nghỉ ốm. Philip cũng có chung cảm nghĩ. Nhưng hôm nay, tôi sẽ xin nghỉ ốm một ngày. Tạ ơn Chúa vì tôi không có lịch mổ nào hết. Harper có thể dời vài cuộc hẹn khám của tôi, nhưng tôi sẽ cần gọi trực tiếp cho Philip.
Tôi gửi cho Philip một tin nhắn, bảo anh ta gọi lại cho tôi ngay. Trong vòng năm phút, điện thoại của tôi đã rung.
“Nora,” anh hỏi. “Em có sao không? Có chuyện gì đấy?”
Tôi đã nhờ anh ta làm hộ mình sáng nay. Tôi ghét phải nhờ lần nữa. Nhưng tôi buộc phải làm. Ai đó đang cố gài tội giết người cho tôi, và tôi cần biết tại sao. “Hôm nay, em thấy không được khoẻ. Em đã bị nôn suốt buổi sáng. Liệu anh có thể gặp vài bệnh nhân thay em được không? Em sẽ bảo Harper dời lại hầu hết các lịch.”
Một khoảng lặng dài ở đầu dây bên kia. “Em ốm thật hay có chuyện gì khác?”
“Em bị ốm,” tôi nghiến răng nói.
“Bởi vì hôm kia em vừa mới hỏi anh về một luật sư hình sự...”
“Anh có làm hộ em được không nào?”
“Tất nhiên là được.” Anh ngừng lại. “Anh có nên lo lắng cho em không đấy, Nora?”
“Em ổn. Chắc chỉ bị nhiễm khuẩn hai mươi tư giờ thôi. Mai em sẽ trở lại.”
“Được rồi,” anh làu bàu. “Em nói sao cũng được.”
Có vẻ như anh ta vẫn không tin tôi, nhưng điều đó không quan trọng. Việc tôi phải làm hôm nay không liên quan gì đến Philip cả. Anh ta không biết gì thì tốt hơn.
Tôi không mang gì theo trong chuyến đi ngoài túi xách, vì tôi sẽ không ở lại qua đêm. Tôi sẽ tới gặp cha tôi, nói chuyện với ông ta về việc đang xảy ra với tôi, rồi về thẳng nhà. Không đời nào tôi ở lại thêm một đêm tại Oregon. Tôi đã mua sẵn vé quay về.
Ba giờ sau khi chuyến bay của tôi cất cánh, tôi đã đang lái xe tới Nhà tù Tiểu bang Oregon. Tôi chưa từng tới nhà tù nào, chưa nói đến một nhà tù an ninh tối đa. Toà nhà sơn màu vàng nhạt trông như thể nó đáng lẽ phải là trường học chứ không phải nhà tù. Một tấm biển cảnh báo được gắn ngay trước lối vào nói rằng tôi không được đi thêm nếu chưa được phép.
Tôi ngồi trong chiếc xe thuê, tóm vô lăng chặt đến mức các khớp ngón tay trắng bệch. Tôi đã lo lắng đến độ không cả bật nhạc trong lúc lái xe. Tôi đã lái đi trong im lặng, chỉ có giọng trong máy định vị GPS chen vào để chỉ đường. Lần thứ một trăm trong ngày hôm nay, tôi tự hỏi đây có phải là một sai lầm hay không.
Nói chuyện với quỷ thì không có gì tốt đẹp.
Tôi ước bà ngoại vẫn còn sống. Sau khi bà đổi tên cho tôi và chúng tôi chuyển nhà, bà là người duy nhất biết được bí mật của tôi. Bà là người duy nhất có thể cho tôi lời khuyên.
Chỉ có điều tôi cảm giác mình đã biết điều bà sẽ nói. Bà sẽ bảo tôi đừng đi. Rằng đây chính xác là điều ông ta muốn, tôi đang rơi thẳng vào bàn tay ông ta.
“Tôi giúp gì được cho cô không, thưa cô?”
Tôi ngước mắt lên khỏi bánh lái và nhìn về phía tiếng nói. Tôi trông ra thì thấy một người đàn ông đang đứng cạnh xe mình trong bộ đồng phục bảo vệ, áo sơ mi cộc tay màu xám với dòng chữ Nhà tù Tiểu bang Oregon được thêu trên ngực áo. Hai ống tay đủ ngắn để lộ ra mấy bắp tay trông khá là đáng sợ.
“Chào.” Tôi cố giữ giọng không run. “Tôi đến đây để thăm một trong các phạm nhân.”
Anh bảo vệ nheo mắt nhìn tôi. Cuối cùng anh ta gật đầu và chỉ đường cho tôi đến bãi đỗ xe. Càng đến gần nhà tù thì cảm giác nôn nao trong dạ dày càng tăng lên.
Đây là một sai lầm. Quay lại ngay khi còn có thể.
Tôi mừng khi thấy an ninh nhà tù này rất cẩn mật. Tôi phải đi qua một máy dò kim loại, ngoài ra còn bị soát người bằng tay nữa. Thậm chí họ còn yêu cầu tôi cởi cả giày. Khi đã hoàn toàn chắc chắn là tôi không mang khẩu súng nào theo, bảo vệ mới chấp nhận cho tôi đi tiếp.
“Cô sẽ phải gặp ông ta qua tấm kính chắn,” anh ta hướng dẫn. “Cô cầm ống nghe bên phía mình, ông ta cầm bên phía ông ta, và ông ta có thể nghe được tiếng cô.”
“Được rồi,” tôi nói.
Bảo vệ nhìn tôi một hồi. “Cô đến gặp thứ cặn bã ấy làm gì?”
Tôi không thể nói sự thật với anh ta. Họ sẽ nghĩ gì về tôi nếu tôi bảo mình là con gái của con quái vật ấy? Tôi đã nghĩ đến giờ này hẳn danh tính của tôi đã tràn khắp Internet rồi, nhưng bằng cách nào đó bí mật của tôi vẫn chìm trong im lặng. “Tôi chỉ có vài câu hỏi cho ông ta. Chuyện... cá nhân.”
Bảo vệ gầm ghè nhưng không hỏi thêm gì.
Anh ta dẫn tôi vào một cái phòng bé tí tẹo có một hàng ghế đẩu đặt trước một dãy các buồng kính. Mỗi buồng lại gắn một chiếc điện thoại. Có một nhân viên an ninh ngồi sẵn trong phòng, theo dõi mọi tương tác. Tôi cảm thấy khó chịu vì thực tế là anh ta chắc sẽ nghe thấy hết những gì tôi nói. Tôi sẽ phải thật cẩn thận.
Tôi được dành cho buồng số bốn. Tôi ngồi xuống, ngón tay gõ nhịp trên mặt bàn. Tôi không tin nổi mình sắp gặp lại cha. Sau hai mươi sáu năm. Một cảm giác không thật. Tôi vẫn có thể quay lại và bỏ đi. Chuyện này không cần phải xảy ra.
Nhưng tôi biết rằng mình sẽ ở lại.
Trước khi đi chuyến này, tôi đã tìm trên Internet để lấy vài bức ảnh hiện nay của cha tôi. Không may, tôi không tìm được thông tin nào trong hai mươi năm trở lại đây. Vậy nên tôi hoàn toàn không biết giờ ông ta trông thế nào. Lần cuối tôi gặp ông, ông là một người to lớn với mái tóc đen giống tôi, một khuôn mặt tạm gọi là ưa nhìn và đôi mắt như xuyên thấu người đối diện.
Tôi đoán giờ trông ông ta không còn như thế nữa. Thậm chí nếu ông có không bị nhốt trong tù từng ấy năm thì ông vẫn sẽ già hơn hai mươi sáu tuổi so với hồi tôi còn bé. Tôi tưởng tượng ông ta vẫn còn những nét điển trai như cũ dù mặt đã thêm nhiều nếp nhăn. Có lẽ là cả tóc muối tiêu nữa. Vẫn vóc dáng tầm thước và đôi bàn tay mạnh mẽ ấy. Đó là hình ảnh của ông ta trong đầu tôi, bất kể khi nào tôi tưởng tượng ra hình dáng ông ngày nay.
Rồi bảo vệ dẫn ông ta vào phòng.
Tôi dành một giây để ngắm người đàn ông là cha tôi này. Giờ ông ta đã ngoài sáu mươi tuổi, nhưng vì lí do gì đó tôi vẫn thấy ngạc nhiên khi mái tóc dày đen của ông ta trước kia đã biến thành xám hoàn toàn – nó chỉ còn lơ thơ trên đỉnh đầu và sau gáy ông là một mảng hói. Trông như ông ta đã bị teo nhỏ. Tôi luôn nhớ ông ta cao thật cao, nhưng giờ thì ông gù xuống và lê chân, mặc dù đó chắc chắn là vì chiếc cùm ở chân ông. Trông ông ta không giống người có khả năng giết hại ba mươi người phụ nữ. Trông ông chỉ như một ông lão lụ khụ. Người ta dễ đoán ông ta đã tám mươi tuổi không chừng.
Bảo vệ bên phía ông ta chỉ tội cho ông biết, nhưng ông không cần. Ngay lập tức mắt ông ta đã xoáy vào mắt tôi. Đó là một điểm không hề thay đổi ở ông – cặp mắt đen, cùng màu với mắt tôi. Chúng không già đi tí nào.
Mắt ông ta không hề rời mắt tôi khi ông ngồi xuống ghế đẩu đối diện. Da ông ta đã nhăn nheo hẳn, có một vết sẹo cũ chạy dọc bên cằm phải và một vết cắt chia chân mày trái thành hai nửa. Tôi từng nghe nói những kẻ phạm phải tội ác thực sự ghê tởm thường bị đánh đập tàn tệ trong tù, và tôi thắc mắc ông ta đã phải chịu đựng những gì suốt bao năm qua. Dù sao đi nữa, những vết sẹo này cũng đã lành từ lâu. Giờ không còn ai đánh đập ông già này nữa.
Cha tôi cầm điện thoại bên phía ông ta ngay lúc tôi cầm phía tôi. Nụ cười thoáng qua trên môi nhanh như một bóng ma khi ông cúi người tới.
“Chào con, Nora.”
Giọng ông ta khang khác, khàn hơn trước, nhưng vẫn còn thân quen đến đau đớn. Ông ta vẫn có cái giọng điệu bình tĩnh, đều đều ấy. Ông không bao giờ cáu giận với tôi. Mẹ tôi đôi khi vẫn kích động khi tôi làm gì đó sai, nhưng ông ta thì không. Dường như ông ta không bao giờ bực tức. Tôi đã từng thích điểm đó ở ông.
“Chào,” tôi ho.
Ông hít một hơi thật sâu trong lúc nhìn khắp lượt tôi, như thể đang hít hà tôi. “Đã lâu lắm rồi nhỉ?”
“Vâng...”
“Trông con đẹp lắm, Nora.”
Tôi không biết phải nói gì với câu đó. “Cảm ơn,” tôi thì thầm.
“Và ta nghe nói con đã học làm bác sĩ phẫu thuật,” ông ta nói thêm. “Khá ấn tượng đấy. Ta đã luôn biết trong con có cái đó.”
Bất chấp mọi chuyện đã xảy ra trong vài ngày vừa qua, tôi ngập tràn cảm giác tự hào. Cha tôi tự hào vì tôi. Tôi biết ông ta là một con quỷ và tôi biết mình không nên quan tâm đến chuyện ông ta nghĩ gì, nhưng mọi người đều muốn cha mẹ tự hào về họ. Thậm chí nếu người cha người mẹ ấy có vô tình giết ba mươi con người đi nữa.
Và ông ta biết điều đó. Ông ta đang thao túng tôi, y như đã thao túng các cô gái bị ông giết hại. Tôi không thể để ông ta làm thế với mình. Nếu không tôi sẽ kết thúc ngay bên cạnh ông ta ở trong nhà tù.
“Ta rất mừng vì cuối cùng con đã quyết định ghé thăm,” ông ta nói. “Ta đã chờ đợi được gặp con. Ta tưởng là con đã quên mất ông bố già nua này rồi.”
“Tôi không bao giờ có thể quên.” Môi tôi gần chạm phải ống nói. Tôi không muốn bảo vệ nghe được tôi. “Tôi đã đọc lá thư của ông.”
“Con đọc rồi à?” Một cái nhìn hài hước hiện trên mặt ông ta. “Chỉ mất có năm trăm lá thư thôi mà.”
Tôi hít vào mạnh. “Ai đã đặt lá thư đó dưới cửa nhà tôi vậy, Aaron?”
“Aaron?” Ông ta cười. Tôi đã quên mất tiếng cười của cha mình thế nào. Tôi chưa bao giờ nghĩ nhiều về nó hồi còn nhỏ, nhưng giờ âm thanh ấy khiến tôi thấy đặc biệt sáo rỗng và vô cảm. “Đó là cách con sẽ gọi ta à? Con từng gọi là Bố cơ mà?”
Tôi cảm thấy một mạch máu đang phập phồng ở thái dương bên phải của tôi. “Ai đã đặt lá thư dưới cửa nhà tôi?”
“Tất nhiên là người đưa thư. Còn ai khác nữa?”
“Nó nằm dưới cửa sau. Và không có dấu bưu điện.”
“Đừng bắt ta phải chịu trách nhiệm cho mấy trò oái oăm của tay bưu tá, Nora à.”
Tôi hít một hơi run rẩy, cố dằn cơn giận xuống. Aaron Nierling đã thành một ông già, nhưng ông ta vẫn là con người cũ như từ xưa tới nay. Nếu họ có bao giờ cho phép ông ta rời khỏi đây, ông ta sẽ làm điều y hệt. Ông ta vẫn hoàn toàn độc địa – một con quỷ.
Tôi nhìn đăm đăm vào cặp mắt tối của ông ta, không chịu chớp. “Ai đã giết những cô gái đó, Aaron?”
“Con biết không, Nora...” Ông ta nghịch cái ống nghe trong tay mình. “Ta đã rất buồn vì con không bao giờ đến thăm ta suốt bao nhiêu năm qua. Ta là bố con cơ mà. Chính bởi ta mà con mới có mặt trên đời này ngay từ đầu. Thế mà ta được cảm ơn ra sao?”
“Ai đã giết những cô gái đó?”
“Ta có thể hiểu được hồi con còn bé và con mụ phù thuỷ vốn là mẹ vợ của ta sẽ không cho phép con.” Mắt trái của ông ta giật cục. “Nhưng sau đó, đáng lẽ con đã có thể đến. Chỉ một lần cũng được. Vì lòng tôn trọng dành cho người đã ban cho con sự sống.”
Bàn tay phải tôi – bên không cầm điện thoại – siết lại thành nắm đấm. Tôi cảm thấy mình có thể đấm bung cả kính vào thẳng mặt ông ta. “Ai đã giết những cô gái đó? Nói cho tôi biết.”
Cha tôi chớp cặp mắt tối nhìn tôi. “Chính là con. Con đã giết chúng.” Ông ta nhướng mày lên. “Không phải sao?”