06. 26 NĂM TRƯỚC
Ở trường không ai thích Marjorie Baker cả.
Tôi có thể hiểu tại sao. Có điều gì đó ở Marjorie làm người ta thấy khó chịu. Kiểu như, mọi thứ con bé ấy nói đều nghe như đang mè nheo vậy. Lần nào nó giơ tay lên và đặt câu hỏi thì tôi đều chỉ muốn nói, “Câm mồm đi, Marjorie!”
Tôi sẽ không nói thế. Nhưng người khác thì có.
Dường như lúc nào nó cũng ngơ ngác trong lớp. Chẳng hạn như khi cô McGinley đang giải thích về thứ gì đó không khó hiểu cho lắm, thì Marjorie chẳng hiểu gì cả. Tôi có thể thấy nó cố ngẩng mặt lên và cố hiểu. Rồi tất cả chúng tôi sẽ phải chờ và không thể học tiếp, vì Marjorie không hiểu bài.
Hơn nữa, nó cũng chẳng xinh. Giá kể nó xinh xắn thì có thể được tha thứ nhiều hơn. Nhưng nó không xinh. Đầu tiên, cặp răng cửa của nó quá to so với miệng. Chúng cần phải thu nhỏ lại ít nhất ba mươi phần trăm. Mặt nó quá dài và cái trán dô khủng khiếp. Đã thế, nó lại còn thuộc loại mũm mĩm ục ịch. Như kiểu ghế sô pha mà bạn có thể tìm thấy ở hiên nhà ai đó.
“Chúng mày có thấy là,” Tiffany Kirk nói trong giờ giải lao hôm nay, “mỗi khi Marjorie bước đi thì nó cứ bành bạch ra không.”
Tất cả chúng tôi cùng nhìn qua sân chơi, tới chỗ Marjorie đang bước đến ngồi ở các bậc thang xa nhất cùng cuốn sách của con bé như mọi ngày. Và Tiffany nói đúng. Marjorie đúng là có kiểu bước hai hàng.
“Ôi trời ơi,” Kari Smith kêu lên. “Mày nói đúng đấy! Trông nó như con vịt ấy!”
Thế là tất cả bọn con gái đều bắt đầu tạo tiếng quàng quạc. Đủ lớn để Marjorie phải quay lại nhìn chúng tôi, và cả lũ phá ra cười như điên. À, tôi thì không cười. Nhưng lũ còn lại thì có.
Marjorie đã quen rồi. Má con bé ửng lên, nhưng nó không nói gì cả. Đôi khi tôi ước gì nó đã phản kháng lại. Marjorie không bao giờ phản kháng. Nếu Tiffany hay Kari cố làm gì đó như thế với tôi... à thì, với tôi thì không. Chúng nó khôn mà.
Bọn con gái còn đứng đó thêm vài phút nữa để nói xấu Marjorie, nhưng chúng tôi đã đổi sang đề tài khác thú vị hơn. Nhưng kì lạ là tôi vẫn còn nghĩ về Marjorie. Tôi nhìn nó ở bên kia sân trường, cô đơn với cuốn sách của mình vì không ai chịu chơi cùng. Tôi không thể rời mắt khỏi nó.
Tôi thường đi bộ một mình từ trường về nhà mỗi ngày. Nhưng hôm nay tôi thấy mình đi theo Marjorie, mặc dù như thế là ngược đường. Tôi đi đủ gần đằng sau lưng con bé để có thể giữ nó trong tầm nhìn, nhưng đủ xa để nó không biết tôi đi sau. Nó hoàn toàn chìm đắm vào thế giới của mình. Tôi chưa từng thấy ai không ý thức được thế giới quanh họ đến vậy. Như thế rất nguy hiểm. Ví dụ ai đó có thể tấn công nó, mà thậm chí nó còn không nhận ra cho đến khi chúng chỉ còn cách mặt nó vài phân. Và lúc ấy thì đã quá muộn.
Sau khoảng năm phút đi bộ, chúng tôi tới một trảng rừng nhỏ nơi tôi biết có vài người vẫn đi leo núi. Marjorie đi thẳng qua nó, nhưng tôi thì chậm lại rồi dừng hẳn. Tôi nhìn xuống lối mòn gập ghềnh, lúc nào vắng tanh. Mọi người khi đi qua đây nhiều lắm, và đặc biệt là không vào buổi giữa ngày trong tuần thế này.
Thú vị thật, có thế thôi.
Mười phút sau đó, Marjorie đi vào cửa của một ngôi nhà nhỏ màu trắng với cái rèm gãy trên tầng hai. Bãi cỏ trước nhà đã mọc um tùm. Cha mẹ tôi không đời nào để cỏ mọc như thế Cha sẽ phát hoảng lên. Cha đặc biệt chú trọng việc mọi thứ phải sạch sẽ và gọn gàng. Lúc nào ông cũng nói, Sạch sẽ là linh thiêng. Nhưng cha mẹ Marjorie rõ ràng không nghĩ như vậy.
Một khi con bé đã biến vào trong, tôi lén tới gần hơn và lẻn sang cạnh nhà. Ngoài Marjorie tôi không nghĩ có ai khác ở nhà. Không có chiếc xe nào đậu ở lối lái xe cả.
Một bụi bồ công anh mọc ở dọc sườn nhà. Cha tôi từng giải thích với tôi rằng mặc dù bồ công anh có màu vàng và rất đẹp, nhưng thực ra chúng là cỏ dại và sẽ làm hỏng cả khu vườn nhà bạn. Kể cả thế đi nữa, tôi vẫn cẩn thận không giẫm lên chúng trong lúc nhìn qua cửa sổ. Marjorie đang ngồi ở giữa phòng khách, trên ghế sô pha. Con bé cầm một bịch khoai tây và đang tống chúng vào miệng. Nó ăn gần như theo nhịp.
Khoai tây chiên. Nhai nhai nhai. Khoai tây chiên. Nhai nhai nhai.
Sau khi theo dõi nó khoảng mười phút, tôi chắc chắn không còn ai khác trong nhà. Marjorie đã phải về một căn nhà trống trong mọi buổi chiều.
Tôi ra khỏi đó trước khi có ai nhìn thấy tôi. Nếu có ai bắt gặp tôi rình rập ngoài ngôi nhà, chuyện sẽ rất tệ. Cha luôn nói rằng nếu ta định làm gì đó sai trái thì ít nhất cũng phải đủ thông minh để không cho ai nhìn thấy ta làm việc đó. Cha đã nói vậy sau khi tôi trộm ít bánh quy từ trong bếp. Con biết là bố mẹ sẽ để ý thấy thiếu bánh và nhận ra con đã ăn trộm. Đó là một tội rất ngu ngốc, Nora. Lần sau đừng có ngốc thế.
Tôi đi theo hướng ngược lại để về nhà. Không như ở nhà Marjorie, mẹ tôi đang thấp thỏm lo âu chờ tôi ở cạnh cửa khi tôi đi vào.
“Nora!” Mẹ chống hai bàn tay mũm mĩm lên hông. “Sao con về muộn thế? Mẹ đã lo đấy!”
“Con có bài tập nhóm cần làm với mấy bạn ở trường ạ.” Từ kinh nghiệm trước đó tôi biết rằng mẹ không thể nhận ra tôi có đang nói dối không. Không được nữa.
Bà thở ra một hơi dài thườn thượt. “Thôi được, lần sau con phải báo trước cho mẹ nếu định về muộn nhé?”
“Trong tuần này có thể con lại về muộn ạ,” tôi nói với mẹ. “Con sẽ nói trước với mẹ.”
“Được rồi.” Bà cúi xuống để ôm và hôn lên đỉnh đầu tôi. Tôi vặn vẹo thoát khỏi vòng ôm của mẹ. “Con muốn ăn nhẹ gì không, con yêu? Mẹ có thể gọt cho con ít táo. Kèm bơ lạc.”
Mẹ lúc nào cũng mời tôi ăn. Dường như bà chỉ nghĩ đến mỗi việc nấu nướng và làm đồ ăn vặt. Cứ như mẹ bị ám ảnh với nó vậy.
“Được ạ. Con sẽ lên phòng và làm bài tập.”
“Được rồi cưng.”
Mẹ lại định hôn lên đỉnh đầu tôi, nhưng tôi né được. Trong lúc bà quay lại bếp, tôi ra hành lang để đi đến chỗ cầu thang, nhưng như mọi lần tôi vẫn bước qua cánh cửa xuống tầng hầm. Tuần này cha tôi xuống đó rất lâu. Ông đã đi câu cá suốt cuối tuần, và tuần này thì xuống dưới đó liên tục. Tôi gần nhưng không thấy ông.
Tôi dừng ở cửa hầm, hít vào mùi hoa oải hương quen thuộc. Và rồi, đúng lúc đang đứng đó, tôi nghe thấy tiếng gì đó.
Tôi cau mày với cánh cửa. Cha chưa về nhà, thế sao lại có tiếng động phát ra từ tầng hầm được nhỉ? Nó nghe như tiếng đập. Nó rất khẽ, nhưng chắc chắn là tôi nghe thấy.
Rồi thêm một tiếng nữa. Gần như là tiếng thét bị chặn lại vậy.
Có gì đang xảy ra dưới ấy thế?
Tôi đặt một tay lên nắm đấm cửa. Tôi thử vặn mạnh, nhưng tất nhiên là nó không mở. Cánh cửa tầng hầm lúc nào cũng khoá chặt.
“Nora, con đang làm gì đấy?”
Giọng mẹ tôi gắt lên. Tôi nhảy tránh khỏi cửa, giấu bàn tay phải đằng sau lưng. Tôi cố hết sức để tỏ ra không có tội.
“Con... con nghĩ là con nghe thấy có tiếng gì ở dưới kia ấy,” tôi lẩm bẩm.
Mẹ lắc một ngón tay với tôi. “Con biết đó là không gian làm việc riêng tư của bố mà. Mẹ không muốn con cố thử xuống dưới đó đâu nhé.”
“Nhưng con nghe...”
“Có khi là thứ gì bị rơi,” mẹ bảo. Cả hai chúng tôi đứng đó, lắng nghe một lát. Nhưng nó đã chìm vào yên lặng. “Dù sao thì cũng không phải việc của con. Mẹ tưởng con phải làm bài tập.”
“Có ạ.”
“Thế lên gác làm bài đi nào.”
“Nhưng…” tôi nhìn chằm chằm vào cánh cửa và hít thật sâu, những phân tử oải hương thấm đầy trong phổi tôi. “Nếu có gì đấy rơi, có lẽ chúng ta nên kiểm tra xem. Biết đâu có thứ bị vỡ.”
“Nếu có gì bị vỡ thì bố con sẽ xử lý khi bố đi làm về.”
“Mà thực ra là bố đang làm cái gì ạ?” Tôi làu bàu.
Mẹ tôi ngập ngừng. “Bố bảo là đang đóng một cái giá sách. Dù sao đi nữa thì bố cũng chẳng cần con giúp đâu.”
Tôi giậm chân hậm hực và quay người khỏi cửa hầm, đi lên gác. Tôi không hiểu tại sao cái hầm ấy lại phải bí mật như thế. Tôi sẽ không đi xuống làm lộn xộn đồ của cha. Tại sao ít nhất tôi lại không được xem ông ấy đang làm gì cơ chứ?
Tiếng động kia là cái gì? Nó thực sự nghe giống tiếng hét.
Nhưng không thể nào.
Khi lên phòng mình, tôi nằm phịch xuống giường với cái ba lỗ bên cạnh. Tôi lục lọi bên trong, tìm sách bài tập. Tôi cũng tìm bút chì trong một cái ngăn nhỏ hơn ở mặt trước cặp. Tôi có cả triệu cái bút chì và bút bi ở ngăn túi đó. Tôi còn có một thứ khác nữa. Một con dao gọt bút chì – một món quà khác cha đã tặng tôi hồi Giáng sinh năm ngoái. Ông bảo tôi lúc nào cũng nên mang nó theo. Để tự vệ. Không phải vì quanh đây nguy hiểm. Về cơ bản chúng tôi sống ở một khu dân cư an toàn nhất và buồn tẻ nhất trên quả đất.
Khi đã lấy sổ và bút chì ra, tôi bắt đầu làm. Bài tập duy nhất là tôi phải viết một bài luận về cuốn sách chúng tôi đã được giao đọc. Sẽ không mất nhiều thời gian. Tôi đã đọc xong cuốn sách từ mấy ngày trước rồi – tôi đọc rất nhanh.
Tôi nhìn qua căn phòng, tìm cái chuồng đặt trên đỉnh giá sách. Một tuần trước cái chuồng đó vẫn là địa bàn của con chuột mà cha đã tặng sinh nhật tôi. Rồi qua cuối tuần, nó chết. Rất đột ngột. Giờ nó đang được chôn ở sân sau trong một cái hộp. Chúng tôi đã tổ chức đám tang cho nó, và mẹ tôi cứ nói đi nói lại thật buồn vì con chuột đã chết, mặc dù chuyện có buồn gì đâu. Ý tôi là, đó chỉ là một con chuột thôi mà.
Tôi mở sách bài tập ra và giở đến trang trống đầu tiên. Tôi được giao phải viết bài về cuốn Charlotte và Wilbur. Nhưng tôi chẳng nghĩ được gì cả. Ý tôi là, cuốn sách thì hay đấy, tôi đoán vậy. Bạn có thể nói gì về một cuốn sách nhắc đến nhện và lợn nào?
Tôi nhìn chằm chằm vào trang giấy trắng. Tôi đặt đầu bút chì xuống trang giấy. Và viết cái tên Marjorie Baker.
Rồi tôi gạch chân nó.