Phần 2. · 6
Các sự kiện mà tôi kể lại cho tới thời điểm này là những gì bản thân tôi chứng kiến. Yuriko, Kazue và bố của cô ta vẫn luôn sống trong hồi ức của tôi. Giống như câu chuyện nhìn từ một phía nhưng bạn có thể mong đợi gì chứ? Người trong cuộc duy nhất còn lại chính là tôi hiện vẫn hoàn toàn khỏe mạnh và đang làm việc tại văn phòng ủy ban quận. Ông ngoại tôi như tôi có nhắc tới bị mắc bệnh Alzheimer nên đang phiêu du trong thế giới tưởng tượng của mình, thời gian hay nơi chốn đối với ông không còn gì quan trọng. Ông thậm chí chẳng còn nhớ ngày xưa đã mê mẩn cây bonsai thế nào. Ông đã bán đi cây sồi và cây thông đen yêu quý của mình, hay cũng có thể chúng đã chết rục từ lâu và đã bị ném vào sọt rác.
Nhắc tới bonsai khiến tôi nhớ lại một câu chuyện nữa liên quan tới cuộc chạm trán với bố của Kazue mà tôi quên chưa kể. Đó là việc tôi phải hoàn trả lại mười nghìn tám trăm yen số tiền cước điện thoại quốc tế.
Vì không có đủ tiền lúc đó nên tôi đã hứa sẽ trả lại sau. Nhưng không dễ dàng chút nào. Vào thời điểm đó toàn bộ tiền tiêu vặt hằng tháng của tôi chỉ có vẻn vẹn ba nghìn yen mà tôi đã phải dùng phần lớn để mua sách vở, đồ dùng học tập nên chẳng còn lại là bao. Ngoài tiền học phí, hằng tháng ba tôi còn gửi thêm cho tôi khoảng bốn mươi nghìn yen nhưng tôi đều đưa hết cho ông ngoại. Dù sao thì tôi cũng đang sống trong nhà ông. Ông thì dĩ nhiên phung phí hết tiền vào các cây bonsai, hoặc là mua cây mới hoặc là mua những thứ phụ trang cho đám cây cũ. Nhưng thế nào đi nữa thì tôi cũng không hề nghĩ là một cuộc điện thoại đi nước ngoài lại đắt như vậy. Trên đường về nhà ngày hôm đó, tôi vắt tai vắt óc để nghĩ cách kiếm ra số tiền đó.
Thỉnh thoảng tôi cũng nhận được điện thoại từ Thụy Sĩ nhưng dĩ nhiên là do ba tôi trả tiền, vả lại chúng tôi chưa bao giờ nói chuyện lâu thế. Chúng tôi không phải là mẫu gia đình chuyện trò lai rai. Thậm chí nếu tôi có bảo ba gởi tiền cho tôi thì cũng phải mất nhiều thời gian mới nhận được. Tôi nghĩ chả còn cách nào khác là phải hỏi vay tiền ông ngoại mất thôi.
Nhưng khi tôi về tới nhà tối hôm đó thì ông ngoại đã đang ngáy trên giường, giấc ngủ sẽ giúp cho huyết áp hạ cuống. Bà hàng xóm làm nghề bán bảo hiểm đang ở đó trông ông. “Cháu phải trả tiền nhiều vậy sao? Sao cháu không bảo để bên nghe trả tiền hả giời?” bà mắng tôi khi nghe kể về chuyện cước điện thoại.
“Thì bác bảo cháu gọi từ nhà họ mà, bác có nhớ không? Bác phải dặn cháu là bảo bên nghe trả tiền chứ. Cháu có biết gì đâu.”
“Cháu nói đúng,” bà hàng xóm hít một hơi thuốc rồi mím môi nhả khói sang bên cạnh để khỏi phả vào mặt tôi. “Nhưng mà dù sao thì bác cũng thấy như thế là quá đắt. Thế ai là người hỏi tổng đài về cước phí?”
“Bố bạn cháu.”
“Nếu ông ta nói dối thì sao. Ông ta biết là ông ta có thể kiếm lời từ vụ này vì cháu chỉ là một đứa trẻ con. Mà thậm chí nếu ông ta không muốn gạt cháu đi nữa thì phần lớn mọi người trong hoàn cảnh này sẽ thương cháu, vừa mất mẹ như thế mà không lấy tiền điện thoại của cháu giống như là một món tiền phúng. Nếu là bác thì bác sẽ làm vậy. Đó là điều hợp lẽ. Nhưng chắc là do tính cách mỗi người, bác nghĩ thế.”
Bà hàng xóm này vốn rất keo kiệt. Tôi chả tin là bà ta sẽ bỏ tiền làm từ thiện giúp ai bao giờ. Nhưng những lời của bà ấy khiến tôi trở nên hoài nghi. Nếu bố Kazue gạt tôi thật? Tôi nhìn xuống mẩu giấy lôi ra từ trong túi có ghi rõ số tiền cước mà tôi phải trả. Bà hàng xóm giật phắt lấy tờ giấy bằng những ngón tay béo mập của mình. Càng nhìn chúng thì bà ta càng nổi điên lên.
“Thật không thể tin nổi là có người lại viết ra một số tiền lớn như vậy và đưa nó cho một đứa trẻ vừa mất mẹ, ông ngoại thì bệnh. Đúng là quái vật. Ông ta làm nghề gì vậy? Nếu ông ta có thể gửi con tới học trường đó thì ông ta hẳn có tiền. Cá là ông ta hẳn có một cái nhà đẹp.”
“Cháu không biết. Ông ấy bảo ông ấy làm cho một hãng lớn. Nhà họ đúng là đẹp thật.”
“Đoán xem, sự tham lam của bọn nhà giàu.”
“Không phải như vậy đâu ạ.”
Cái vẻ căn cơ tới bốc mùi tràn ngập trong ngôi nhà của Kazue lại hiện ra trước mắt tôi khiến tôi lắc đầu quầy quậy.
“Vậy thì bác có cảm tưởng rằng ông ta chỉ là một tay chạy máy lương ba cọc ba đồng nhưng giả vờ sang trọng mà thôi. Nếu không thì đúng là một tên bủn xỉn.” Đưa ra kết luận này xong thì bà hàng xóm vội vàng thu dọn đồ đạc ra về, rõ ràng là muốn ra khỏi cửa trước khi tôi kịp hỏi vay tiền. Tôi bực quá ném luôn tờ giấy ghi nợ vào tường.
Sáng hôm sau nhìn thấy tôi là Kazue lập tức hối thúc về món nợ. “Bố tớ bảo tớ nhắc bạn đừng quên trả số tiền bạn nợ khi gọi điện thoại.”
“Xin lỗi. Mai tớ trả được không?”
Tôi vẫn nhớ cái ánh mắt Kazue lướt trên mặt tôi lúc đó. Rõ ràng là cô ta không tin tôi. Nhưng chính bọn họ có thành thật với tôi hay không? Tôi biết là tôi sẽ phải trả số tiền đó. Thế nên ngay khi tan học tôi chạy vội về nhà và lấy một cây bonsai trong bộ sưu tập của ông ngoại, một cây nam thiên trúc nhỏ để bê cho dễ. Ông ngoại tôi đặc biệt tự hào về nó, ông thường hân hoan miêu tả cái sắc đỏ tuyệt vời của những trái mọng mà cây cho ra vào mùa đông. Mọc quanh gốc cây là một tấm thảm rêu dày, xanh ngút ngát. Cây được trồng trong một cái chậu men bóng màu xanh sẫm.
Ông ngoại đang chăm chú xem một trận đấu sumo trên vô tuyến. Chẳng còn thời cơ nào tốt hơn, tôi lặng lẽ mang cây bonsai ra khỏi nhà. Tôi để nó vào giỏ xe và ra sức đạp tới Vườn Thọ.
Trời bắt đầu tối và khu vườn đã đóng cửa. Ông cán bộ quản thúc đang đứng ở cửa trước tiễn khách. Ông ta có vẻ ngạc nhiên nhìn tôi đạp với cây bonsai.
“Cháu chào ông ạ,” tôi nói, cố gắng tỏ ra lễ phép. “Ông có muốn mua cây bonsai này của cháu không ạ?”
Trông ông ta có vẻ không hài lòng. “Có phải là ông ngoại cháu xui cháu không đấy?”
Tôi lắc đầu nguầy nguậy.
Ông ta mỉm cười vẻ giả tạo. Tôi chợt nhận ra rằng ông ta rất muốn phục thù ông ngoại.
“Được rồi. Ta sẽ trả cháu một món hời. Năm nghìn yen cháu nghĩ sao?”
Thất vọng nhưng tôi vẫn giơ hai ngón tay lên. “Ông có thể cho cháu hai tờ được không ạ? Hai mười nghìn yen? Ông ngoại cháu bảo đây là một cây nam thiên trúc rất đẹp.”
“Cô cháu ơi, cái cây này chẳng đáng giá thế đâu.”
“Thôi được, thế thì để cháu đi hỏi người khác.”
Ông cán bộ quản thúc ngay lập tức nâng giá lên gấp đôi, trả tôi mười nghìn yen. Tôi bảo với ông ta là riêng cái bình không cũng bán được bằng ấy tiền rồi. Ông ta nghĩ một lúc rồi nói giọng dỗ ngọt, “Cháu bê cái chậu này hẳn nặng lắm,” đoạn chạm vào tay tôi định nhấc cái chậu lên. Làn da thô ráp của ông ta giống như một lớp da thú được đánh xi cẩn thận và ấm một cách kỳ lạ. Tôi phản ứng theo bản năng bằng cách rụt tay lại và đánh rơi chậu hoa xuống đất. Chậu bonsai rơi xuống, va vào những tảng đá và vỡ tan tành. Những chiếc rễ cây được giải phóng bật ra tua tủa. Mấy thanh niên đang quét dọn xung quanh dừng lại và nhìn chúng tôi vẻ báo động. Ông nhân viên quản thúc cúi xuống loay hoay nhặt các mảnh vỡ, vừa làm vừa nhìn tôi vẻ hơi e ngại.
Cuối cùng tôi cũng bán được cái cây với giá ba mươi nghìn cùng với cái chậu vỡ. Tôi quyết định gửi số tiền còn lại vào sổ tiết kiệm sau khi trả hết tiền điện thoại. Tôi không lường trước được chuyện gì sẽ xảy ra nếu như cần gấp tiền cho các chuyến đi ngoại khóa trường hay bất cứ việc gì đột xuất. Ở trường Q lúc nào cũng bị áp lực đóng góp cho các sự kiện này nọ, từ những lễ hội hàng năm cho tới các bữa tiệc sinh nhật. Các học sinh khác chả bao giờ phải nghĩ tới chuyện này nhưng tôi thì cần có thêm một khoản dự trữ trong sổ tiết kiệm của mình.
Đêm đó ông ngoại tôi không để ý đến cái cây bị mất nhưng sáng hôm sau khi vừa bước chân ra ngoài hiên thì ông liền hét lên vẻ thất thanh: “Ôi ngài Nam thiên trúc! Ngài đi đâu mất rồi?”
Tôi bỏ đi chuẩn bị bữa trưa như thể không biết chuyện gì xảy ra. Ông ngoại chạy vội vào phòng khách chật chội dáo dác tìm cây nam thiên trúc. Ông mở tủ ở phòng bên cạnh, kiểm tra những ngăn ở trên cùng sát với trần nhà. Thậm chí ông ra cả chỗ lối đi lục lọi tủ đựng giày dép.
“Chả tìm thấy đâu cả! Mà lại là một cây bonsai quý như thế. Nó có thể ở đâu được nhỉ. Ra đây đi, ra khỏi chỗ đó đi. Làm ơn đi ngài nam thiên trúc. Già xin lỗi đã bỏ lơ ngài. Già không có ý đó. Nhưng con gái già vừa mất, ngài biết đấy, thật là đau đớn. Trái tim già đang tan nát. Già xin lỗi, già thực sự rất lấy làm tiếc. Xin hãy xuất đầu lộ diện, xin đừng giận dỗi nữa!”
Ông ngoại lục tìm khắp nhà như một kẻ mất trí cho tới khi kiệt sức mới thôi. Đầu rũ xuống, vai rụt lại, ông nhìn bất động vào khoảng không. “Nó biến mất để dẫn con gái ta tới thế giới bên kia.” Ông ngoại thường chỉ biết lừa để chôm của người khác. Nhưng chả bao giờ ông nghĩ tới chuyện nghi ngờ tôi, hay bà hàng xóm, nhân viên bảo vệ hay bất cứ người nào xung quanh. Không chút mảy may nghi ngờ nào. Có vẻ như câu chuyện khó tin này đã tới hồi kết nên tôi đi học, trong lòng nhẹ nhõm. Việc tới nhà Kazue dẫn tới hết xui xẻo này đến xui xẻo khác.
Nghĩ đến mới thấy việc mẹ tôi đột ngột tự sát là nguyên nhân dẫn đến sự tan vỡ của cả gia đình. Tôi ở với ông ngoại, Yuriko ở với nhà Johnson còn ba tôi thì ở lại Thụy Sĩ và xây dựng một gia đình mới với người đàn bà Thổ Nhĩ Kỳ đó. Đối với ba, Nhật Bản gắn liền với cái chết của mẹ. Sau này tôi mới sửng sốt khi phát hiện ra rằng người phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ đó chỉ hơn tôi có hai tuổi. Cô ta sinh ba người con, toàn là con trai. Đứa lớn nhất giờ đã hai mười tư và nghe nói đang chơi bóng cho một câu lạc bộ Tây Ban Nha. Nhưng vì tôi chả bao giờ gặp nó và cũng chả quan tâm tới bóng đá nên hai chúng tôi giống như sống ở hai thế giới khác nhau.
Nhưng trong thế giới biểu đồ tưởng tượng của tôi, Yuriko, tôi và những người em trai cùng cha khác mẹ, tất cả cùng đang bơi một cách điên cuồng trong ánh sáng xanh tươi của biển mặn. Nếu tôi vẽ một biểu đồ tương tự theo kiểu biểu đồ Burgess cho kỷ Cambrian mà tôi vốn yêu thích, Yuriko với khuôn mặt xinh đẹp của nó sẽ là nữ hoàng dưới thủy cung. Như vậy nó sẽ là một con Anomalocaris, thủy tổ của loài giáp xác, một loài sinh vật có hai càng trước rất lớn, giống như một con tôm hùm chẳng hạn. Còn các em trai của tôi, hẳn được thừa hưởng đôi chân mày rậm, sẫm của dòng máu Trung Đông sẽ là những con trùng kết vào thành một cụm hay là các sinh vật giống con sứa bơi khắp đại dương. Còn tôi? Tôi hẳn sẽ là một con Hallucigenia, một loài sinh vật bò dưới lớp bùn của đại dương với bảy chiếc gai lông, trông như một cái lược. Con Hallucigenia chuyên ăn xác chết thối. Lúc đó tôi không biết điều này. Loài Hallucigenia sống nhờ ăn xác các loài động vật chết. Mà thế thì càng hợp với tôi vì tôi vẫn sống bằng hồi ức quá khứ của những người đã chết.
Thế còn chuyện giữa Mitsuru và tôi thì sao? Mitsuru đỗ vào Đại học Y Tokyo như cô ấy hằng mong muốn. Nhưng sau đó cuộc đời cô ấy thay đổi theo một hướng khác hẳn, một hướng mà không ai có thể ngờ tới. Cô ấy có vẻ rất ổn, chỉ có điều là cô ấy đang bị đi tù. Năm nào tôi cũng nhận được thiệp chúc mừng năm mới của cô ấy sau khi qua kiểm duyệt của chính quyền nhưng tôi chẳng bao giờ hồi âm. Bạn muốn hỏi tôi tại sao? Tôi sẽ giải thích khi kể tới phần đó của câu chuyện.
Giờ hãy tiếp tục câu chuyện của tôi cho tới ngày xảy ra một sự kiện hoàn toàn bất ngờ. Tôi chẳng muốn nói với ai những nếu muốn tiếp tục giãi bày thì tôi không có cách nào khác là phải tiết lộ chuyện này. Đó là khoảng một tuần trước ngày xử án. Hai vụ giết người đã được xâu chuỗi và đặt tít “Vụ giết người hàng loạt ở căn hộ chung cư.” Lúc đầu báo chí còn xôn xao trước cái chết của Kazue và gọi đó là “Vụ sát hại gái văn phòng cao cấp.” Nhưng sau khi phát hiện ra Zhang cũng liên quan tới vụ mưu sát Yuriko thì họ đồng loạt thay tít báo. Yuriko bị ám hại trước và khi nạn nhân đầu tiên chỉ là một gái điếm già thì không có một lý do gì để tạo ra một tin nóng.
Hôm đó người ta dự báo một cơn bão trái mùa có nguy cơ đổ bộ vào Tokyo. Đó là một ngày không yên tĩnh. Một cơn gió ấm bất chợt tràn vào thành phố và mỗi lúc một trở nên dữ tợn. Từ cửa sổ văn phòng hành chính quận tôi nhìn gió quất dữ dội lên những tán cây sung bên ngoài như muốn vặt trụi hết lá. Gió xô nghiêng những chiếc xe đạp trong bãi đỗ như những cây domino. Phải nói rằng đó là một ngày đáng sợ, khiến vì một lý do nào đó tôi cảm thấy hết sức bất an. Tôi vẫn ngồi tại bàn tư vấn về chăm sóc trẻ em như thường lệ nhưng chẳng có ai tới hỏi han nên tôi cứ nghĩ ngợi miên man. Trời mưa bão thế này tôi chỉ muốn mau chóng được về nhà. Thế rồi một người phụ nữ lớn tuổi xuất hiện trước mặt tôi. Bà ta vận một bộ vest màu ghi may rất khéo, rất nền nã mà sang trọng, cặp kính đọc sách gọng bạc trễ xuống mũi. Ba ta chắc ngoài năm mươi. Mái tóc muối tiêu búi gọn lại sau gáy, bà ta có một vẻ gì đó cứng nhắc, giống như một người Đức. Tôi vốn chỉ quen tiếp những bà mẹ trẻ có con nhỏ tới đây nên tôi đoán chắc bà ta tới để hỏi thông tin về nhà trẻ cho cháu nên tôi lên tiếng một cách miễn cưỡng, “Tôi có thể giúp gì cho bà được ạ?”
Nghe thấy thế người phụ nữ lớn tuổi khẽ thở phì ra một tiếng, môi chu lại. Hàm răng của bà ta có vẻ gì đó khiến tôi thấy quen quen.
“Cháu thân mến, cháu không nhận ra ta sao?”
Ngay cả khi ngắm kỹ lại gương mặt của bà ta tôi cũng không tài nào nhớ ra được. Bà ta có một làn da rám nắng, không hề trang điểm. Cũng không tô son. Một người phụ nữ lớn tuổi không trang điểm với khuôn mặt hình cá. Làm sao tôi có thể phân biệt bà ta với những người đồng niên khác?
“Là cô Masami này. Masami Johnson!”
Tôi há hốc mồm ra vì ngạc nhiên. Tôi không hề nghĩ Masami lại biến đổi thành một người phụ nữ trông giản dị nền nã như vậy. Trong ký ức của tôi Masami luôn là một người đàn bà sôi nổi rực rỡ, luôn có gì đó không ăn nhập với hoàn cảnh xung quanh. Như đi leo núi Gunma với một chiếc nhẫn kim cương to sụ hay đi trượt tuyết với đôi môi tô son đỏ choét. Đó là người chụp chiếc mũ len lông xù lên đầu Yuriko. Là người mặc chiếc áo phông hàng hiệu in đầu con báo dữ tợn và sống động tới mức hù dọa được bọn trẻ con. Là người nói tiếng Anh với một thứ âm điệu giống như hét vào tai người khác và bảo, “hãy nhìn tôi đây này!” Dù vậy tôi vẫn cứ tin rằng bà ta tới đây để tìm hiểu về nhà trẻ. Thế nên tôi lấy ra quyển sổ đăng ký và bảo bà ta, giọng cố làm ra vẻ thản nhiên, “Cháu không biết là cô cũng ở quận này.”
“Ồ không, cô không ở đây.” Masami trả lời vẻ cực kỳ nghiêm túc. “Cô đang ở Yokohama. Cô tái hôn mà, cháu biết đấy.”
Tôi thậm chí còn không biết là bà ta và Johnson đã ly hôn. Tôi vẫn nghĩ Masami và Johnson là hai người tôi không bao giờ mong gặp lại.
“Cháu không biết. Thế cô ly dị từ khi nào vậy?”
“Cũng được hơn hai mươi năm rồi.”
Masami rút từ chiếc hộp bằng bạc ra một tờ danh thiếp và đưa cho tôi.
“Đây là công việc bây giờ của cô.”
TƯ VẤN VÀ HỖ TRỢ: CÁC KHÓA HỌC TIẾNG ANH KÈM RIÊNG. Đó là những chữ ghi trên danh thiếp. Và tên của bà ta đã đổi từ Masami Johnson sang Masami Bhasami.
“Cô đã tái hôn với một người Iran chuyên làm về xuất nhập khẩu. Cô cũng làm thêm một chút, công việc của cô là tuyển lựa các giáo viên tiếng Anh rồi tổ chức các khóa học tiếng. Thực sự là rất thú vị.”
Tôi giả vờ xem xét chăm chú tấm danh thiếp để có thời gian suy nghĩ. Tại sao bà ta lại tới tìm tôi sau hai mươi bảy năm? Nhất là vào một ngày như ngày hôm nay. Kỳ lạ không thể tả được. Masami đứng đó tươi cười nhìn tôi, mắt lấp lánh hoài niệm quá khứ.
“Thật vui được gặp lại cháu, cháu thân mến. Xem nào, lần cuối cùng chúng ta nói chuyện với nhau là khi Yuriko gọi điện cho cháu để báo nó được nhận vào trường Q. Thế mà đã hơn hai mươi năm rồi.”
“Vâng, đúng thế ạ.”
“Thế cháu thế nào?”
“Tốt ạ, cảm ơn cô đã quan tâm.”
Cảm ơn cô đã quan tâm, thật tình, tôi vừa trả lời theo đúng phép lịch sự vừa cay đắng nghĩ thầm. Việc bà ta xuất hiện ở đây quả là không bình thường. Bà ta hẳn không cất công tới đây chỉ để nói về các lớp học tiếng Anh. Khi tôi không còn giấu được vẻ hoài nghi, Masami cuối cùng cũng thú nhận.
“Sau khi Johnson và cô chia tay, chú ấy thực sự cùng đường. Chú ấy đã từng là một ngôi sao đang lên của ngành chứng khoán, nhưng khi sự nghiệp tụt dốc chú ấy đành phải kiếm sống bằng nghề dạy tiếng Anh rẻ mạt. Và rồi tất nhiên, cả việc Yuriko bị giết nữa.”
Nhưng giọng nói của Masami ngược lại, có vẻ gì đó như thù hận. Và rồi bà ta nhìn thẳng vào tôi lúc đó còn đang choáng váng và nói, “Cháu không biết đúng không? Johnson và cô chia tay là vì Yuriko.”
Đột nhiên tôi nhớ lại vẻ mặt của Johnson khi ngồi trước lò sưởi trong căn nhà nghỉ bằng gỗ cái buổi tối xa xưa đó với Yuriko trong lòng ra vẻ nũng nịu với chú ấy. Lúc đó con bé chỉ là học sinh tiểu học. Johnson thì lúc nào cũng trông đẹp trai và tự tin với mái tóc màu nâu bồng bềnh và chiếc quần jean màu bạc. Tôi lại thấy mình đang tưởng tượng ra gương mặt đứa trẻ con mà hai người đó sẽ sinh ra. Hình ảnh đó có gì đó thật thân thiết và quyến luyến khiến đầu óc tôi gần như tê liệt. Yuriko đã chết nhưng vẫn tìm được cách đầu độc tôi. Thật không thể chịu nổi.
Cảm thấy sự khinh bỉ mà tôi cố tình che giấu, Masami nói, “Vậy thì đúng là cháu không biết thật. Mà cô thì đã đối tốt với nó biết bao, chăm sóc nó như thế nào. Để bị nó đâm sau lưng như vậy. Chuyện đó thực sự đã khiến cô phát rồ, phải tìm tới bác sĩ tâm thần mất một thời gian. Đấy cháu xem, cô đã mất bao nhiêu công để xin cho nó được vào trường Q, hằng ngày cô chuẩn bị bữa trưa cho nó, ngon lành đẹp mắt để bạn bè nó không chê trách gì được. Tiền tiêu riêng cô cũng cho nó không ít, mỗi lần ra ngoài chơi là cô lại cho thêm. Rồi cả số tiền bỏ ra để xin cho nó vào được đội hoạt náo viên thật không phải là nhỏ. Nói thật cho cháu biết nếu mà giờ có thể lấy lại số tiền đó thì cô sẽ làm ngay.”
À thì ra thế. Bà ta tới đây để đòi lại tiền. Tôi cúi đầu xuống vẻ bối rối, cố tránh mắt của bà ta.
“Cháu rất lấy làm tiếc.”
“Thôi quên nó đi. Cháu cũng chả làm được gì. Cháu với Yuriko cũng chả bao giờ gần gũi. Ta đoán cháu là đứa thông minh. Cháu đã nhìn ra chân tướng của nó ngay từ đầu.”
Nghe Masami nói chắc tôi có thể hành nghề thầy bói. Rồi bà ta mở túi và lấy ra một quyển sổ ghi chép rồi thảy nó lên bàn trước mặt tôi. Bìa cuốn sổ có hình dán một bông hoa huệ màu trắng và trông rất con gái. Mép bông hoa đã bong ra trông hơi nhem nhuốc, bẩn thỉu.
“Gì đấy ạ?”
“Của em gái cháu. Có thể gọi là nhật ký của nó. Có vẻ như nó đã viết cho tới lúc chết. Cô rất tiếc đã đường đột tới tìm cháu thế này nhưng quyển nhật ký này làm cô rùng mình. Thế nên cô tới đây để giao nó cho cháu. Cô nghĩ cháu giữ nó là tốt nhất. Vì một số lý do mà Johnson vốn là người giữ cuốn sổ này, thế rồi một hôm tự dưng chú ấy gửi nó cho cô và bảo là chú ấy không biết tiếng Nhật nên giữ nó chả có ích gì. Khi Yuriko bị sát hại, cô nghĩ chú ấy cũng bị cắt rứt lương tâm. Nhưng chú ấy không biết là nó có viết về chú ấy trong cuốn sổ này.”
Masami hơi bĩu môi khi nói những lời này.
“Cô đã đọc nó chưa?”
“Dĩ nhiên là chưa.” Masami lắc đầu quầy quậy. “Cô không quan tâm tới nhật ký của người khác, nhất là với thứ nhật ký rác rưởi như thế này.”
Masami nói dường như không để ý tới mâu thuẫn trong chính lời nói của mình.
“Được thôi, cháu sẽ giữ nó.”
“Ôi thật đúng là nhẹ cả người! Lúc đầu cô nghĩ hay là nộp nó cho cảnh sát. Rồi cô nghe nói phiên tòa sắp diễn ra nên cô hơi lo. Giờ thì tốt rồi. Cô đưa nó cho cháu. Cảm ơn cháu. Cháu bảo trọng nhé!”
Masami giơ cánh tay rám nắng vẫy chào tôi. Bà ta nhìn ra bầu trời ngoài cửa sổ rồi vội vã quay đi. Tôi đoán chắc là bà ta muốn về nhà, ra khỏi cái nơi xa lạ này trước khi cơn bão ập tới. Hoặc cũng có thể bà ta không muốn mất thêm một phút nào nữa chuyện trò với một người có dính dáng tới Yuriko. Nói gì thì nói bà ta cũng đã đi khỏi.
Người phụ trách ca trực đi tới phía sau lưng tôi và nhìn xuống quyển sổ. “Có yêu cầu gì không? Hay có vấn đề gì?”
“Không ạ. Không có gì đâu ạ.”
“Thật chứ. Vì trông bà ta không có vẻ gì liên quan tới chỗ này.”
Tôi lập tức lấy tay che quyển sổ của Yuriko lại.
Khi người ta đem ra xử vụ giết người hàng loạt ở căn hộ chung cư thì tôi lại trở thành mục tiêu của những cái liếc mắt hiếu kỳ. Ông trưởng ca thì lúc nào cũng tin là tôi có che giấu thông tin gì đó.
“Thưa sếp, hôm nay có thể về sớm được không ạ? Tôi rất lấy làm tiếc nhưng tôi thực sự lo cho ông ngoại ở nhà.”
Ông trưởng ca gật đầu không nói gì rồi quay trở lại bàn của ông ta đặt bên cửa sổ. Với độ ẩm không khí bất thường của ngày hôm nay thì ngay cả âm thanh phát ra từ đôi giày thể thao của ông ta cũng nghe tủn mủn, rời rạc. Được trưởng ca cho phép, tôi lao vội về nhà, vừa đi vừa chống chọi với những cơn gió lớn. Gió mạnh tới mức như muốn thổi bay cả hai lốp xe. Chả còn bao lâu nữa là tới mùa thu với những cơn gió lạnh từ phương Bắc. Sự ẩm ướt trong không khí ngày hôm nay khiến da tôi nhớp nháp. Nhưng cơn đau quặn thắt bụng của tôi không phải là do thời tiết mà do cuốn nhật ký cả một người như Yuriko để lại.
Khi còn đi học, Yuriko thậm chí không biết viết các bài luận mà phải nhờ người khác làm hộ. Và con bé cũng không bao giờ quan tâm tới những gì xảy ra xung quanh vì nó hoàn toàn không có một chút hiếu kỳ nào. Nhật ký của một đứa con gái tự đại và ngốc nghếch như nó chắc toàn những chuyện trẻ con nhố nhăng của bản thân. Yuriko thậm chí còn chẳng bao giờ viết được lấy một câu đầy đủ, thế quái nào mà nó lại viết được hẳn một quyển nhật ký? Chắc chắn có ai đó viết và giả mạo là của Yuriko? Nhưng là ai mới được chứ? Mà quan trọng hơn là viết về cái gì? Con bé ấy thì có thể viết về cái gì cơ chứ? Sự tò mò lại chiến thắng, tôi chỉ muốn đọc nhật ký của Yuriko ngay lập tức.
Vậy đấy, nó ở đây. Đây là nhật ký của Yuriko. Thành thật mà nói tôi không nên đưa nó cho mọi người xem. Toàn là những chuyện vớ vẩn nhăng cuội về đời tư của nó nhưng cũng tràn ngập những điều dối trá về tôi và mẹ tôi. Không phải ai khác mà chính là Yuriko viết mới lạ chứ. Đến tôi cũng ngạc nhiên vì làm sao mà con bé có thể viết ra những thứ rác rưởi đến vậy. Rõ ràng là chữ viết rất giống chữ viết của nó. Nhưng chắc hắn là ai đó đã giả mạo.
Nếu bạn hứa không tin bào những gì nó viết thì tôi sẽ để cho bạn đọc quyển nhật ký này. Bạn không được tin vào chúng đấy nhé! Vì đó hoàn toàn là một sự xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn. Rất nhiều Hán tự trong nhật ký bị con bé viết sai. Nhiều chữ còn bị thiếu nét, hoặc nhiều ký tự viết rất xấu và khó đọc. Thế nên tôi viết lại những phần đó cho dễ hiểu.