Phần 5.
Phần 1
Phần 5.
NHỮNG TỘI ÁC CỦA TÔI: LỜI KHAI CỦA ZHANG
·1·
THẨM PHÁN: Xin hãy xác nhận tên của anh là Zhang Zhe-zhong(1), sinh ngày 10 tháng Hai năm 1966, quê quán ở Đại Ấp, thị xã Bảo Hưng, tỉnh Tứ Xuyên, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa.
1. Trương Trạch Trung hoặc Trương Triết Trung.
BỊ CÁO: Vâng, đúng vậy.
THẨM PHÁN: Anh hiện cư trú tại căn hộ số 404 tòa nhà Matoya số 4-5 Maruyama, quận Shibuya, Tokyo và làm việc cho khách sạn Dreamer. Có đúng không?
BỊ CÁO: Đúng ạ.
THẨM PHÁN: Anh tuyên bố là anh không cần phiên dịch. Anh chắc chứ.
BỊ CÁO: Vâng. Tôi nói thạo tiếng Nhật. Tôi chắc chắn.
THẨM PHÁN: Rất tốt. Luật sư bên công tố viên có thể đọc cáo trạng lên không?
CÁO TRẠNG
Vào ngày mồng một tháng Mười một, năm thứ mười hai Heisei (2000), Văn phòng công tố Tokyo do ủy viên công tố Noro Yoshizaki đại diện đề nghị truy tố Zhang Zhe-zhong, công dân nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung hoa sinh ngày 10 tháng Hai năm 1966, hiện làm việc tại một khách sạn và cư trú tại tòa nhà Matoya, căn hộ 404, số 4-5 phố Maruyama, quận Shibuya, Tokyo trước tòa án Tokyo với những tội danh sau:
TỘI DANH THỨ NHẤT:
Trong thời gian làm việc tại Shangri-la, một quán ăn Trung Quốc ở Kabuki, quận Shinjuku, vào ngày 5 tháng Sáu năm 1999 bị cáo đã tới căn hộ số 205 khu nhà Hope Heights số 5-12 Okubo, quận Shinjuku và tại đây vào khoảng 3 giờ sáng cùng ngày, bị cáo đã dùng cả hai tay bóp cổ Yuriko Hitara (37 tuổi) khiến nạn nhân tử vong vì ngạt thở. Sau đó bị cáo đã lấy số tiền hai mươi nghìn yen trong ví nạn nhân và một chiếc dây chuyền vàng đeo cổ 18 ca ra (trị giá bảy mươi nghìn yen vào thời điểm đó) của nạn nhân.
TỘI DANH THỨ HAI:
Cũng chính bị cáo vào hôm 9 tháng Tư năm 2000 đã tới căn hộ số 103, khu nhà Green Villa số 4-5 Maaryama, quận Shibuya, và vào gần nửa đêm cùng ngày đã dùng hai tay bóp cổ Kazue Sato (39 tuổi) khiến nạn nhân tử vong vì ngạt thở. Sau đó bị cáo đã lấy bốn mươi nghìn yen trong ví của nạn nhân.
TỘI DANH VÀ HÌNH PHẠT
Với tội danh thứ nhất: Bị cáo bị buộc tội cướp của và giết người theo điều 240, khoản 2, Bộ Luật Hình sự.
Với tội danh thứ hai: Bị cáo bị buộc tội cướp của và giết người theo điều 240, khoản 2, Bộ Luật Hình sự.
THẨM PHÁN: Chúng ta sẽ bắt đầu phiên tòa xử hai tội danh mà công tố viên vừa đưa ra. Nhưng trước đó, tôi sẽ tuyên bố quyền của bị cáo. Anh có quyền giữ im lặng, và có quyền giữ im lặng trong suốt quá trình xét xử vụ án. Khi chấp nhận trả lời một câu hỏi, anh không có nghĩa vụ phải trả lời câu hỏi kế tiếp. Tuy nhiên nếu anh chọn trả lời thì tất cả những gì anh nói có thể sẽ được dùng để làm bằng chứng chống lại anh nên tôi nhắc nhở anh nên thận trọng. Sau khi nghe những điều khoản nói trên tôi muốn hỏi anh một lần nữa, anh có bất cứ phản ứng gì đối với những tội danh mà bên công tố vừa nêu ra hay không?
BỊ CÁO: Tôi nhận đã giết Yuriko Hirata, nhưng tôi không mưu sát Kazue Sato.
THẨM PHÁN: Anh thừa nhận hành vị phạm tội ở tội danh thứ nhất nhưng không phạm tội ở tội danh thứ hai?
BỊ CÁO: Đúng.
THẨM PHÁN: Thế còn những tội danh về cướp của?
BỊ CÁO: Tôi đã đánh cắp tiền và dây chuyền của cô Hirata nhưng tôi không cướp gì của cô Sato.
THẨM PHÁN: Luật sư bào chữa nói gì?
LUẬT SƯ BÀO CHỮA: Tôi xin bảo vệ ý kiến của thân chủ.
THẨM PHÁN: Rất tốt. Xin mời bên công tố mở đầu phần tranh tụng.
BẢN LUẬN TỘI CỦA CÔNG TỐ VIÊN:
TỘI DANH THỨ NHẤT TRONG CÁO TRẠNG
Phần 1: Tiểu sử cá nhân bị cáo
Bị cáo sinh ngày 10 tháng Hai năm 1966 ở tỉnh Tứ Xuyên, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa, là con trai thứ ba của Zhang Xiao-niu(1), nông dân (hiện 68 tuổi) và Zhang Xiu-lan(2) (hiện 61 tuổi). Bị cáo có bốn anh chị em: anh cả, An-ji(3) (hiện 42 tuổi), anh hai Gen-de(4), một chị gái tên là Mei-hua(5) (hiện 40 tuổi) và một em gái tên là Mei-kun(6), qua đời năm 1992 trong một tai nạn. Bị cáo học xong tiểu học vào năm mười hai tuổi, sau đó nghỉ học giúp đỡ gia đình làm ruộng.
1. Trương Tiểu Ngưu.
2. Trương Tú Lan.
3. An Cát hoặc An Cơ, An Kỳ.
4. Căn Đức.
5. Mai Hoa.
6. Mai Khôn.
Năm 1989, bị cáo quyết định rời khỏi gia đình để đi tìm việc làm tốt hơn. Bị cáo và em gái bị cáo, Mei-kun, đi tàu tới Quảng Đông để tìm việc ở thành phố Quảng Châu. Năm 1991, họ chuyển tới thành phố Thâm Quyến, cũng thuộc tỉnh Quảng Đông.
Năm 1992, bị cáo và em gái bị cáo Mei-kun lên tàu ở tỉnh Phúc Kiến định nhập cảnh trái phép vào Nhật Bản. Mei-kun đã bị chết đuối trong quá trình vượt biển còn bị cáo đã nhập cảnh bất hợp pháp vào Nhật Bản một cách trót lọt tại đảo Ishigaki. Không có giấy tờ hợp pháp nên bị cáo đã làm nhiều công việc khác nhau như dọn dẹp vệ sinh và nấu bếp. Bị cáo cũng từng làm việc trong ngành xây dựng. Vào năm 1998, bị cáo làm việc tại một quán bar ở Shinjuku tên là Nomisuke và năm 1999 bị cáo bắt đầu làm việc tại quán Shangri-la cũng ở Shinjuku. Tháng Bảy năm 1999, bị cáo chuyển sang làm việc ở Dreamer, một khách sạn tình nhân ở Honmachi, Kichijoji, khu Musashino. Bị cáo chưa từng kết hôn. Theo đăng ký hộ tịch, bị cáo ở cùng với các cá nhân sau: Chen-yi(7), Huang và Thìn, tất cả đều quốc tịch Trung Quốc.
7. Trần Di
Ngày 30 tháng Sáu năm 2000, bị cáo phải ra trước tòa án Tokyo vì tội danh nhập cảnh bất hợp pháp. Bị cáo bị phạt hai năm tù cộng thêm bốn năm án treo. (Quyết định ngày 20 tháng Bảy cùng năm.)
Phần 2: Nạn nhân Yuriko Hirata
Nạn nhân Yuriko Hirata sinh ngày 17 tháng Năm năm 1962, con gái thứ hai của Jan Maher (quốc tịch Thụy Sĩ) hiện đang làm việc cho hãng dệt Schmidt của Thụy Sĩ và Sachiko Hirata. Vì bố mẹ nạn nhân sống với nhau không có hôn thú nên nạn nhân dùng cả họ bố là Maher và họ mẹ là Hirata. Vào tháng Ba năm 1976, Hirata và bố mẹ chuyển từ Kita-Shirakawa tới thành phố Bern ở Thụy Sĩ. Tháng Bảy năm đó, Sachiko mất tại Bern nên Hirata đã rời khỏi nhà bố mình, một mình trở về Nhật Bản. Vì chị gái nạn nhân lúc đó đang sống với bố của Sachiko nên Hirata ở nhà một người quen, người Mỹ, và nhập học tại trường cấp hai hệ thống trường Q. Sau đó, Hirata tiếp tục học lên trung học nhưng bị đuổi học vào năm thứ ba ở trường trung học do có hành vi không đứng đắn.
Sau khi bị đuổi học, nạn nhân cũng chuyển ra khỏi nhà người quen và bắt đầu sống một mình. Nạn nhân ký hợp đồng với một công ty người mẫu và làm việc trong lĩnh vực mẫu quảng cáo và tạp chí cho tới năm 1985 thì chuyển sang làm tiếp viên tại Mallord, một câu lạc bộ ở Roppongi. Vào năm 1989, nạn nhân chuyển sang làm việc cho câu lạc bộ Jeanne cũng ở Roppongi và thay đổi nhiều công việc khác nhau kể từ đó. Trong thời gian làm tiếp viên hộp đêm, Hirata cũng đã hành nghề mãi dâm ở Shinjuku và Shibuya.
Phần 3: Tình huống dẫn đến tội ác
Bị cáo như đã nêu ở phần trước, lúc đó đang làm bồi bàn ở quán Shangri-la, quận Shinjuku. Ngoài đồng lương chết đói, bị cáo còn bị những người chủ gốc Phúc Kiến hắt hủi. Các nhân viên khác thì châm chọc, gọi bị cáo là “đồ nhà quê mà cứ làm như tinh hoa phố thị” nên bị cáo cũng không có nhiều quan hệ riêng tư với những người làm cùng.
Được biết bị cáo hay có những hành vi như ăn vụng thức ăn của khách, đổ bia và rượu whiskey còn lại trong chai vào can nhựa mang về nhà dùng. Bị cáo đã nhiều lần bị cảnh cáo về những hành vì thiếu đứng đắn nói trên.
Ngoài sai sót đó thì bị cáo là một người làm việc rất chăm chỉ, đúng giờ, chưa nghỉ làm một ngày nào. Nói rằng phải gửi tiền về cho gia đình nên bị cáo còn làm thêm một việc bán thời gian tại nhà trọ Futomomokko ở gần đó ngay sau khi hết việc ở quán vào lúc mười giờ đêm. Công việc của bị cáo ở nhà trọ Futomomokko là đổ rác và giặt khăn tắm. Sau khi làm xong bị cáo sẽ chạy tới phố Kabuki để đón chuyến tàu cuối về căn hộ của bị cáo tại Maruyama, quận Shibuya.
Tất cả các ngày trong tuần, trừ ngày thứ Tư, bị cáo làm việc tại Shangri-la từ trưa cho tới mười giờ tối. Bị cáo được trả 800 yen cho mỗi giờ làm việc cộng với 6.500 yen cho chi phí đi lại hằng tháng, tổng cộng mỗi tháng bị cáo kiếm được khoảng 315.000 yen. Công việc làm thêm bán thời gian mang lại cho bị cáo 2.000 yen cho hai giờ làm việc.
Tiền thuê căn hộ 404 ở tòa nhà Matoya lên tới 65.000 yen một tháng nhưng bị cáo cho ba người khác là Chen-yi, Huang và Thìn ở chung và lấy của họ mỗi người là 35.000 yen một tháng nên đã lãi ra 40.000 yen.
Bị cáo thường bảo các đồng nghiệp ở chỗ làm là bố mẹ đang xây nhà ở quê nên bị cáo phải kiếm ra ba triệu yen để gửi cho họ. Nhưng bị cáo rất thích dùng đồ đắt tiền và hay mặc quần áo và đồ trang sức sang trọng như chiếc vòng tay vàng 24 ca ra và chiếc áo da trị giá 50 nghìn yen mà bị cáo mua ở cửa hàng bách hóa Isetan.
Phần 4: Những tình tiết liên quan đến tội ác
Vào khoảng mười giờ đêm ngày 4 tháng Sáu năm 1999, trên đường tới chỗ làm việc tại nhà trọ Futomomokko, bị cáo đi ngang qua Hirata lúc này đang đứng trước công viên Okubo, phố Kabuki. Nạn nhân cầm một cái ô. Bị cáo vốn biết mặt những cô gái đứng đường ở địa điểm này nhưng đây là lần đầu tiên bị cáo nhìn thấy Hirata. Bị cáo ngay lập tức chú ý tới nạn nhân vì nhầm tưởng nạn nhân là người Mỹ. Bị cáo vốn luôn tin rằng sẽ có ngày tới được nước Mỹ.
“Anh có khuôn mặt đẹp,” là những lời đầu tiên Hirata nói với bị cáo. Vì nạn nhân nói tiếng Nhật nên bị cáo nhận ra cô Hirata không phải là người Mỹ và tỏ ra thất vọng. Tuy nhiên lời tán dương của nạn nhân khiến bị cáo hài lòng và có ý muốn hẹn hò với nạn nhân. Nhưng vì sợ trễ giờ làm nên bị cáo chỉ vẫy tay, mỉm cười với nạn nhân rồi chạy vội tới nhà trọ Futomomokko. Tại đây, bị cáo tiếp tục công việc của mình như thường lệ.
Không thể nào xóa hỏ hình ảnh của Hirata ra khỏi tâm trí, nên đường về nhà bị cáo lại đi qua công viên Okubo. Bị cáo tới công viên vào khoảng mười hai giờ năm phút đêm và nhìn thấy nạn nhân vẫn đang đứng dưới mưa.
Khi Hirata mừng rỡ bảo bị cáo, “Tôi sắp chết cóng vì đứng đây chờ anh!” Nghe vậy, bị cáo quyết định sẽ quan hệ với nạn nhân.
Vào thời điểm đó, bị cáo có 22.000 yen trong người. Khi hỏi Hirata lấy bao nhiêu, nạn nhân bảo 30.000 yen. Vì không có đủ tiền nên bị cáo định bỏ ý định. Hirata đồng ý hạ xuống 15.000 yen. Bị cáo đề nghị họ tới một khách sạn. Nhưng nạn nhân bảo cô có một căn hộ ở gần đó. Bị cáo rất hài lòng vì không phải trả thêm tiền khách sạn nên đã đi cùng nạn nhân tới phòng của cô.
Trên đường, Hirata dừng lại ở một cửa hàng 7-Eleven mua bốn lon bia, một túi đậu phộng cay và hai chiếc bánh nhân đậu hết 1.575 yen và tự trả bằng tiền túi của mình.
Căn phòng mà Hirata dẫn bị cáo đến nằm trong một tòa nhà hai tầng bằng gỗ và bê tông ngay phía sau Ngân hàng Kitashin ở phố Okubo. Tòa nhà Hope Heights có năm phòng ở tầng dưới và năm phòng ở tầng trên. Căn hộ của Hirata nằm trên tầng hai, số 205, hướng Bắc cạnh cầu thang. Hirata đã thuê căn hộ này dưới tên Yuriko Hirata từ 5 tháng Mười hai năm 1996 với giá 33.000 yen một tháng. Số tiền này được rút ra hằng tháng từ tài khoản của nạn nhân. Có vẻ như Hirata đã thuê chỗ này để hành nghề mãi dâm. Căn hộ gồm một phòng rộng sáu chiếu Nhật có lót thảm tatami, giữa phòng này và lối vào có một diện tích nhỏ dùng làm bếp, nhà vệ sinh và bồn rửa. Trong phòng gần như không có đồ đạc gì ngoại trừ một chiếc giường gấp futon có đệm sẵn sàng để sử dụng.
Bị cáo và Hirata uống bia trong phòng này rồi kéo giường gấp ra và quan hệ sinh lý. Bị cáo muốn được ngủ lại sau đó nhưng Hirata yêu cầu bị cáo rời đi. Khi bị cáo đề nghị một lần nữa được ở lại vì trời mưa và chuyến tàu cuối cùng đã đi mất, Hirata vẫn từ chối.
Hirata đòi bị cáo phải trả 20.000 yen bao gồm tiền phòng và thức ăn đồ uống mua ở cửa hàng 7-Eleven. Nghe vậy bị cáo hiểu ra rằng không những phải trả tới đồng xu cuối cùng trong túi mà còn phải đi bộ về tới Shibuya dưới trời mưa. Bị cáo từ chối trả tiền cho Hirata. Khi Hirata tỏ thái độ thì bị cáo quyết định sẽ giết chết nạn nhân. Vào khoảng ba giờ sáng ngày 5 tháng Sáu, bị cáo dùng cả hai tay siết cổ nạn nhân chết vì ngạt thở. Bị cáo ở lại đó ngủ cho tới mười giờ sáng.
Vào khoảng 10 giờ 30 sáng bị cáo lấy 20.000 yen trong ví nạn nhân và lột sợi dây chuyền 18 ca ra của nạn nhân đang đeo (trị giá 70.000 yen) và đeo vào cổ mình. Bị cáo rời khỏi căn hộ không khóa cửa với thi thể nạn nhân ở nguyên hiện trường.
Phần 5: Những tình tiết sau khi xảy ra tội ác
Bị cáo tới quán Shangri-la sớm hơn thường lệ một tiếng đồng hồ. Bị cáo nói với chủ xin được nghỉ việc ngay lập tức. Nhưng chủ quán không chấp nhận việc xin nghỉ đột xuất. Bị cáo tự động dọn ngăn để đồ của mình và bỏ đi không đòi lấy tiền lương. Trong lúc đi khỏi quán bị cáo gặp ông A, một chủ quán khác. Hai người nói chyện một lát trước quán. Bị cáo bảo ông A rằng anh ta nghỉ việc rời đi về hướng đại lộ Yasukkuni. Ông A để ý thấy bị cáo đeo một chiếc dây chuyền vàng có vẻ đắt tiền mà trước đây ông chưa bao giờ nhìn thấy.
Sau khi rời khỏi quán Shangri-la, bị cáo đi xe lửa tuyến Yamanote tới ga Shibuya. Từ đây bị cáo đi bộ về căn hộ số 404 của mình ở tòa nhà Matoya trên phố Maruyama. Căn hộ này được thuê bởi một người tên Chen mà bị cáo quen biết trên tàu khi vượt biển sang Nhật. Chen thuê căn hộ này vào tháng Tư năm 1998 và vẫn giữ căn hộ dưới tên mình khi đã chuyển ra ngoài ở và cho bị cáo thuê lại mỗi tháng 65.000 yen chuyển thẳng vào tài khoản của Chen.
Matoya là một tòa nhà bốn tầng bằng bê tông kiên cố không có thang máy. Nhà và đất đều thuộc quyền sở hữu của bà Fumi Yamamoto. Căn hộ số 401 bao gồm một phòng sáu chiếu Nhật, một phòng ba chiếu, một bếp và một buồng tắm. Bị cáo ở trong phòng ba chiếu. Vào trưa ngày 5 tháng Sáu, một người nam giới có tên là Thìn và một người khác tên là Huang đang ngủ ở trong căn hộ. Chen-yi thì đã đi làm tại một sòng bạc pachinko ở Shinkoiwa nên không có nhà. Thìn, Huang và Chen-yi đều là những người Trung Quốc mà bị cáo gặp ở Tokyo. Họ không bao giờ thảo luận chuyện riêng tư cũng như công việc với nhau.
Tiếng động bị cáo gây ra khi trở về đã đánh thức Thìn và Huang, hai người này rời khỏi căn hộ không bao lâu sau đó. Sau đó bị cáo nấu nướng trong bếp, ăn rồi đi ngủ tiếp. Bị cáo thức dậy khi Chen-yi đi làm về và cả hai người ăn mì ramen tại cửa hàng mì Tamaryu phía Đông ga Shibuya. Sau đó họ đi chơi một ván bowling ở Hội quán Shibuya rồi trở về căn hộ vào lúc mười một giờ đêm.
Khi không thấy tin tức gì của vụ giết người được đưa ra ánh sáng sau nhiều ngày đã trôi qua, bị cáo nhờ Chen-yi giúp tìm một công việc khác. Chen-yi gợi ý bị cáo đi làm cùng ở sòng bạc pachinko nhưng bị cáo từ chối, nói rằng chỗ đó quá ầm ĩ. Chen-yi hứa sẽ giúp tìm việc cho bị cáo.
Phần 6: Phát hiện ra thi thể Hirata và diễn biến tiếp theo của vụ án
Thi thể của Hirata được phát hiện mười ngày sau đó khi người ở trọ bên cạnh, một người Hàn Quốc than phiền với chủ nhà về mùi hôi thối nồng nặc. Chủ nhà tới kiểm tra và phát hiện cửa không khóa. Khi bước vào trong thì phát hiện ra thi thể của Hirata. Nạn nhân chỉ mặc độc một chiếc áo phông, một cái chăn mỏng trùm trên đầu.
Thi thể nạn nhân đã bắt đầu phân hủy nhưng vẫn có thể nhìn thấy những dấu vết bất thường trên cổ họng nạn nhân và vết máu bầm tụ lại ở phần mềm vùng cổ và dọc theo tuyến giáp. Khi tin tức về cái chết của Hirata lan truyền, bị cáo biết rằng không thể quay lại quán Shangri-la để đòi tiền lương. Bị cáo cũng lo sợ sợi dây chuyền vàng đánh cắp sẽ tố giác tội ác của mình nên đã giấu nó vào trong va li. Cuối cùng sợ không còn tiền tiêu, bị cáo quay lại bảo với Chen-yi chấp nhận bất cứ công việc gì.
Chen-yi giới thiệu cho bị cáo một công việc bán thời gian làm bảo vệ khách sạn tình nhân Dreamer ở số 1 phố Honmachi, quận Kichijoji khu Musashino. Bị cáo chấp nhận và bắt đầu làm việc tại đây từ tháng Bảy.
BẢN LUẬN TỘI CỦA CÔNG TỐ VIÊN:
TỘI DANH THỨ HAI TRONG CÁO TRẠNG
Phần 1: Nạn nhân Kazue Sato
Nạn nhân Kazue Sato sinh ngày 4 tháng tư năm 1961, con gái đầu lòng của Yoshio và Satoko Sato. Yoshio là nhân viên của Hãng Kiến trúc và công trình G. Khi Sato vào học năm thứ nhất tiểu học, gia đình nạn nhân chuyển từ Omiya ở tỉnh Saitama sang sống ở khu Kita-Karasuyama, quận Setagaya, thành phố Tokyo. Sato học tiểu học và cấp hai ở địa phương, sau đó thi đỗ vào trường trung học nữ sinh Q và khoa kinh tế đại học Q.
Cha Sato qua đời khi nạn nhân đang học năm thứ hai đại học. Vì vậy, Sato phải vừa học vừa làm gia sư và giáo viên luyện thi bán thời gian để kiếm tiền trả học phí.
Sato tốt nhiệp đại học Q vào tháng Ba năm 1984 và tháng Tư cùng năm được nhận vào Hãng Kiến trúc và Công trình G, nơi bố nạn nhân làm việc trước đây. Là công ty lớn nhất trong lĩnh vực kiến trúc và công trình, hãng G vốn nổi tiếng về truyền thống cha truyền con nối giữa các nhân viên và còn có biệt danh là Công ty gia đình G. Hãng G rất tích cực trong tuyển dụng con cái của các nhân viên. Sau khi tốt nghiệp đại học loại ưu và trở thành nhân viên phòng Nghiên cứu chung của hãng G, Sato đã trở thành người phụ nữ đầu tiên được bổ nhiệm một chức vụ quan trọn như vậy với một tương lai đầy hứa hẹn.
Vào năm 1985, Sato được thăng chức trở thành trợ lý giám đốc phòng nghiên cứu. Đây là bộ phận phân tích các yếu tố kinh tế ảnh hưởng tới ngành xây dựng, phát triển những phần mềm phân tích mới v.v… Sato chủ yếu thực hiện các nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của các tòa nhà cao tầng. Công việc của nạn nhân được các đồng nghiệp khác trong công ty đánh giá cao và nạn nhân là một người rất tâm huyết với công việc.
Tuy nhiên, Sato không giao thiệp nhiều với cấp trên cũng như đồng nghiệp sau giờ làm việc vì không có người quen hay họ hàng ở chỗ làm. Vì vậy không ai biết nạn nhân thường làm gì sau giờ làm. Sato chưa bao giờ kết hôn. Nạn nhân sống với mẹ và em gái. Sau khi bố mất, nạn nhân là nguồn thu nhập chính trong gia đình.
Năm 1990, ở tuổi 29, Sato được thuyên chuyển tạm thời sang một phòng nghiên cứu thí nghiệm công trình thuộc một chi nhánh của hãng G. Vào thời điểm này Sato đã phải nằm điều trị tại bệnh viện vì bệnh biếng ăn. Sato đã từng bị chẩn đoán và điều trị bệnh biếng ăn vào năm thứ hai trung học. Vào tháng Năm năm 1991, Sato bắt đầu làm tiếp viên bán thời gian tại một câu lạc bộ vào buổi tối sau giờ làm việc. Năm 1994, nạn nhân bắt đầu gặp gỡ khách hàng nam giới ở các khách sạn để bán dâm và tới năm 1998 thì bắt đầu chính thức hành nghề mãi dâm ở khu vực Shibuya.
Yuriko Hirata, nạn nhân ở tội danh thứ nhất, và Kazue Sato đều là học sinh của trường nữ sinh Q nhưng khác lớp và không có giao thiệp gì với nhau trong và sau quá trình học tập.
Phần 2: Những tình tiết dẫn đến tội danh thứ hai
Sau khi thực hiện tội ác đã nêu ở tội danh thứ nhất của cáo trạng, bị cáo bỏ việc ở quán Shangri-la và nhà trọ Futomomokko rồi tới làm việc tại khách sạn tình nhân Dreamer ở Muashino. Tuy nhiên bị cáo vẫn không thay đổi chỗ ở và tiếp tục sống tại căn hộ số 404 tòa nhà Matoya số 4-5 Maruyama, quận Shibuya. Ngoài ba người Thìn, Huang và Chen-yi như nhắc tới ở trên còn có hai người nữa là Niu-hu và A-wu thỉnh thoảng cũng tới đây ở.
Bị cáo làm việc tại khách sạn Dreamer các ngày trong tuần trừ thứ Ba, từ trưa tới mười giờ đêm, dọn dẹp phòng khách, giặt giũ chăn màn và những việc khác.
Khi bắt đầu làm việc vào năm 1998 bị cáo làm việc rất chăm chỉ và độc lập nhưng những năm tiếp theo, thái độ làm việc của bị cáo dần dần thay đổi. Bị cáo thường tới muộn về sớm và gây khó khăn cho người làm cùng với anh ta, một nhân viên người Iran. Người này đã khiếu nại với chủ. Trong đơn khiếu nại của mình anh ta còn tố giác bị cáo có những hành vi thiếu đứng đắn khác như ngủ trưa trong phòng dành cho khách, lấy trộm xà phòng, dầu gội, khăn tắm, xem phim người lớn trong phòng v.v…
Tháng Hai cùng năm, một người sống ở đó cho biết nhìn thấy bị cáo lấy bao cao su mà khách sạn dành cho khách, đổ nước vào rồi ném những bao cao su có nước ở trong xuống con mèo của hiệu sushi bên cạnh, từ cửa sổ khách sạn. Vào thời điểm đó người chủ khách sạn lần đầu tiên nghĩ đến việc cho bị cáo nghỉ việc.
Vào thời điểm đó bị cáo được trả 750 yen một giờ làm việc, quy ra vào khoảng 170.000 yen một tháng nhưng không có trợ cấp đi lại. Với mức thu nhập thấp hơn so với thời gian làm việc trước đây tại quán Shangri-la, bị cáo bắt đầu vay nợ các bạn cùng phòng. Bị cáo đã vay Thìn 100.000 yen, Huang 40.000 yen và của Chen-yi 60.000 yen. Bị cáo bảo rằng mẹ bị cáo đang phải nằm viện ở Trung Quốc nên phải gửi tiền về.
Bị cáo còn vay tiền của Niu-hu và A-wu và tiếp tục thu tiền nhà của Thìn và những người khác. Hậu quả là mối quan hệ giữa bị cáo và những người ở cùng ngày càng trở nên xấu đi. Ngay cả Chen-yi người trước đây có quan hệ khá tốt với bị cáo cũng bắt đầu trở nên khó chịu khi bị cáo dần đánh mất uy tín trước những người quản lý ở khách sạn Dreamer. Mà Chen-yi lại là người giới thiệu cho bị cáo tới làm việc ở đây.
Vào ngày 25 tháng Năm năm 2000, Thìn, Hung và Chen-yi biết đây là ngày bị cáo lĩnh lương nên đã hối thúc bị cáo trả tiền. Bị cáo định trả cho mỗi người bọn họ một nửa số tiền nhưng ba người kia biết rằng bị cáo vẫn còn 240.000 yen giấu trong một va li có khóa nên không chấp nhận đề nghị của bị cáo. Họ cũng to tiếng với bị cáo về việc bị cáo lấy tiền thuê nhà của họ quá cao.
Dưới áp lực đó, bị cáo đành phải chấp nhận điều kiện của ba người trên. Bị cáo đồng ý trả tổng cộng 200.000 yen tiền vay nợ cho ba người cộng với 50.000 yen mỗi người bù vào khoản tiền thuê nhà chênh ra bấy lâu nay. Bị cáo phải lấy hết lương và tiền để dành bấy lâu ra trả nợ.
Kết quả là bị cáo chỉ còn lại 60.000 yen để sống đến hết tháng cho tới khi có lương mới. Điều đó khiến quan hệ giữa bị cáo với Thìn, Huang và Chen-yi càng xấu đi.
Cũng vào thời điểm đó, Chen, người đứng tên thuê căn hộ số 404 Matoya cũng gây áp lực để bị cáo đi thuê chỗ khác ở. Từ đầu tháng Giêng, Chen đã nhiều lần thông báo cho bị cáo rằng bị cáo phải dọn khỏi căn hộ vào giữa tháng Ba. Khi bị cáo than phiền là không có chỗ nào để chuyển đi thì Chen đã đồng ý cho bị cáo ở lại tới hết tháng Tư. Chen cũng nói cho bị cáo biết là ở tòa nhà bên cạnh có một căn hộ cho thuê, số 103, tòa nhà Green Villa số 4-5 phố Maruyama, quận Shibuya, Chen có thể giúp bị cáo thuê căn hộ đó với số tiền là 150.000 yen một tháng. Rõ ràng là vào thời điểm đó, bị cáo liên tục gặp phải những vấn đề rắc rối về tiền bạc.
Nhân viên người Iran làm việc cùng bị cáo ở khách sạn Dreamer sau này cho biết bị cáo đi vay tiền người khác dù đã có một số tiền để dành kha khá là vì bị cáo muốn mua được một tấm hộ chiếu. Để có thể xuất cảnh sang Mỹ.
Phần 3: Về căn hộ 103 nhà Green Villa
Tòa nhà Matoya số 4-5 Maruyama ở quận Shibuya là một tòa nhà bê tông bốn tầng kiên cố cách nhà ga Shinsen tuyến Inokashira-Keio khoảng một trăm mét về phía Bắc trên một con phố hẹp, một chiều. Tòa nhà Green Villa nơi xảy ra vụ án là một tòa nhà gỗ nằm ở phía Bắc tòa nhà Matoya. Tòa nhà Green Villa có một tầng hầm và hai tầng ở trên. Ở đây vừa có các cửa hàng nhỏ vừa có các căn hộ cho thuê. Cả hai tòa nhà nói trên đều thuộc quyền sở hữu của Fumi Yamamoto.
Có ba căn hộ cho thuê ở Tòa nhà Green Villa. Hiện trường vụ án xảy ra ở căn hộ số 103, mặt quay ra con phố một chiều nói trên. Căn hộ số 102 không có ai ở. Kimo Hara sống ở căn hộ 101. Ở phía Tây của tòa nhà là một cầu thang ngoài trời bằng sắt dẫn lên tầng trên cùng. Ở tầng hầm ngay phía dưới căn hộ số 103 là một quán ăn nhỏ tên là Thất Báu.
Để đi từ ngoài đường vào, những người thuê nhà sử dụng một con đường bê tông hẹp nằm ở phía Nam của tòa nhà. Bên ngoài, phía Nam căn hộ 103 có một cánh cửa dẫn xuống con đường này. Bên trong căn hộ, bếp nằm sát tường phía Nam và bên cạnh là một phòng sáu chiếu Nhật có trải thảm tatami. Giữa lối vào phòng và sáu chiếu Nhật là nhà vệ sinh.
Chen được họ hàng giới thiệu với Fumi Yamamoto để thuê căn hộ 404 ở tòa nhà Matoya trước đây với giá 45.000 yen và cho bị cáo thuê lại với giá 65.000 yen. Họ hàng của Chen mở một nhà hàng Trung Quốc ở thành phố Niiza, tỉnh Saitama nên cần chỗ ở cho nhân công. Vì vậy bị cáo buộc phải trả lại căn hộ nói trên. Khi bị cáo than phiền là không biết chuyển đi đâu Chen đã nói chuyện với bà chủ nhà Fumi Yamamoto với ý định thuê lại căn hộ ở tòa nhà Green Villa. Khi bị cáo nói muốn được xem căn hộ thì bà Yamamoto đã đưa cho bị cáo chìa khóa căn hộ 103 vào ngày 28 tháng Giêng năm 2000.
Shizu Kakiya là người đã thuê căn hộ nói trên cho tới khi bà qua đời vào 18 tháng Tám năm 1999. Căn hộ không có ai ở kể từ đó. Gas đã bị cắt từ tháng Chín năm 1999 và điện bị cắt sau đó một tháng.
Căn hộ chỉ có một chìa khóa duy nhất do bà Yamamoto giữ. Bà Yamamoto đã đưa nó cho bị cáo hôm 28 tháng Giêng 2000. Cho tới thời điểm đó không có ai sử dụng chìa khóa này.
Phần 4: Quan hệ giữa bị cáo và nạn nhân
Vào khoảng tháng Mười một năm 1998, bị cáo nghe bạn cùng phòng, Huang, kể rằng anh ta vừa gặp “một phụ nữ Nhật trên một phố tối và có quan hệ tình dục với cô ta.” Đặc điểm nhận dạng của người phụ nữ này là cô ta có mái tóc dài và gầy. Nghe vậy bị cáo cho rằng đó chính là người phụ nữ mà thỉnh thoảng bị cáo nhìn thấy trên đường. Khoảng giữa tháng sau, bị cáo bắt gặp Sato trên đường về. Nhớ lại câu chuyện của Huang, bị cáo quay ra nhìn Sato. Thấy vậy, Sato gọi theo bị cáo, “Chúng ta có thể về phòng anh được không?” Bị cáo từ chối bảo là bị cáo “có các bạn ở cùng.” Nhưng Sato đáp lại, “Có bao nhiêu người? Tôi sẽ chiều hết.” Nghe vậy bị cáo dẫn Sato về căn hộ của mình ở số 404 Matoya.
Lúc đó hai người bạn cùng phòng của bị cáo là Thìn và Chen-yi đang ở nhà. Ba người bọn họ thay phiên nhau quan hệ tình dục với Sato. Vào khoảng tháng Giêng năm sau, bị cáo và Huang tình cờ đi qua chỗ Sato đang đứng ở phố Maruyama. “Đây là người phụ nữ mà cậu ngủ cùng lần trước đấy à?” bị cáo hỏi Huang. Khi Huang gật đầu thì bị cáo bảo bị cáo cũng ngủ với cô ta. Huang cũng nghe Thìn kể vào khoảng tháng Mười hai năm 1998 rằng bị cáo, Thìn và Chen-yi có ngủ với người phụ nữ này ở căn hộ. Khi nói chuyện đó với bị cáo, bị cáo trả lời, “Thực ra, tớ đã gặp người phụ nữ này một năm về trước.”
Phần 5: Các tình tiết dẫn đến tội ác
Vào ngày thứ Bảy mồng 8 tháng Tư năm 2000, khoảng bốn giờ chiều, Sato rời khỏi tòa nhà không nói là đi đâu. Vào khoảng sáu giờ chiều cô tới gặp một viên chức vốn là khách hàng quen. Hai người hẹn nhau ở tượng đài Hachiko phía trước ga Shibuya. Sau đó họ tới một khách sạn ở phố Maruyama, Sato nhận được 40.000 yen từ người này và trước chín giờ tối hai người chia tay trên Dogenzaka. Sato đi về phía ga Shinsen.
Cùng ngày, bị cáo tới làm việc tại khách sạn Dreamer. Vào lúc mười giờ tối nhân viên ca đêm tới thay ca cho bị cáo. Bị cáo lên tàu tuyến Keio-Inokashira tới Shibuya vào lúc 10 giờ 13 rồi đi bộ về nhà. Khi tới ga Shinsen, bị cáo xuống tàu và bắt đầu đi bộ về tòa nhà Matoya cách đó khoảng vài phút.
Bị cáo bắt gặp Sato ở gần tòa nhà và quyết định sẽ quan hệ với nạn nhân lẫn nữa. Nhưng Thìn, Huang và Chen-yi đang ở nhà và quan hệ giữa họ và bị cáo lúc này đang rất xấu. Bị cáo do dự, không muốn mang nạn nhân về nhà. Khi nhớ ra rằng mình đang giữ chìa khóa căn hộ 103 ở tòa nhà Green Villa (như lý do đã nêu ở trên) bị cáo liền quyết định đưa nạn nhân tới đó và có quan hệ với nạn nhân ở căn hộ này.
Sato có mang theo bao cao su lấy ở các khách sạn mà nạn nhân hẹn với khách. Sato lấy một chiếc bao cao su ở trong túi của mình, vỏ ngoài bao cao su có in chữ Khách sạn Glass Palace và yêu cầu bị cáo đeo vào trước khi quan hệ. Sau khi quan hệ, bị cáo vứt bao cao su đã sử dụng ra ngoài đường, phía Nam tòa nhà.
Như đã ghi chú ở phần trên, bị cáo lúc này đang túng bấn. Khi Sato chuẩn bị rời đi, bị cáo quyết định sẽ lấy tiền của nạn nhân. Ngay sau nửa đêm một chút, Sato mặc áo khoác và chuẩn bị đi. Bị cáo giật lấy chiếc túi xách tay bằng da màu nâu của nạn nhân. Nạn nhân chống trả. Bị cáo đấm vào mặt nạn nhân và rồi dã tâm giết người bùng lên, bị cáo dùng hai tay siết cổ nạn nhân tới chết. Rồi bị cáo mở túi, lôi ví của nạn nhân ra lấy 40.000 yen mà nạn nhân vừa nhận được của khách. Để lại xác nạn nhân ở nguyên trạng, bị cáo rời khỏi căn hộ không khóa cửa và trở về phòng mình ở số 404 tòa nhà Matoya.
Satoko Sato, mẹ của nạn nhân, bắt đầu trở nên sốt ruột khi không thấy con gái trở về tối hôm 8 tháng Tư. Cho tới thời điểm đó Sato chưa bao giờ đi ra ngoài cả đêm. Vào thứ Hai ngày 10 tháng Tư, khi được biết con gái mình không tới chỗ làm sáng hôm đó, bà Satoko đã báo cảnh sát.
Phần 6: Các sự việc xảy ra ngay sau đó
Bị cáo bình thản đi làm ở khách sạn Dreamer sáng hôm 9 tháng Tư như không có chuyện gì xảy ra. Sau giờ làm, bị cáo đi cùng với hai đồng nghiệp tới công viên Inokashira uống bia. Vào khoảng 11 giờ 30 đêm, bị cáo bắt tàu tuyến Inokashira tới ga Iniokashira và đi bộ về nhà.
Ngày hôm sau, sau giờ làm việc ở khách sạn Dreamer, bị cáo gặp Chen-yi ở ga Shibuya. Hai người tới tiệm mì ramen Tanaryu ở phía đông nhà ga. Ăn xong họ tới chơi bowling ở Hội quán Shibuya. Sau đó hai người thảo luận về căn hộ ở khu Green Villa và quyết định không chuyển tới đó vì nó nhỏ hơn căn hộ họ đang thuê ở tòa nhà Matoya. Bị cáo còn bảo anh ta định chuyển tới Osuka để tìm việc ở đó.
Ngày mười một hằng tháng là ngày bị cáo nhận lương. Bị cáo tới thành phố Niiza ở tỉnh Saitama để gặp Chen. Bị cáo đưa Chen 100.000 yen và nói rằng anh ta sẽ không dọn tới căn hộ ở tòa nhà Green Villa và đưa trả chìa khóa phòng 103 cho Chen. Ngay đêm đó Chen đưa trả chìa khóa cho bà chủ nhà Yamamoto tại nhà riêng ở quận Suginami. Bà Yamamoto chuyển chìa khóa cho con trai bà là Akira, người điều hành công ty giám sát hai tòa nhà Matoya và Green Villa.
Phần 7: Phát hiện ra thi thể nạn nhân
Ngày 18 tháng Tư, khi tới thăm một người quen sống ở tầng một tòa nhà Matoya, Akira Yamamoto quyết định rẽ qua kiểm tra xem căn hộ 103 ở tòa nhà Green Villa có được khóa lại cẩn thận hay không. Tới nơi, qua khe cửa sổ hơi hé mở bên hông căn hộ. Akira Yamamoto nhìn thấy nửa trên một người có vẻ như đang nằm ngủ. Đoán rằng đó là một người quen của Chen hay một người Trung Quốc làm thuê cho nhà hàng của anh ta, Akira Yamamoto gọi lớn và thử mở cửa ra. Cửa không khóa. Một đôi giày nữ xếp ngay sau bậu cửa. Yamamoto ngạc nhiên một cách khó chịu khi nhận ra kẻ đột nhập là một phụ nữ. Lúc này Akira Yamamoto cũng bắt đầu ngửi thấy một thứ mùi kỳ lạ xộc lên liền quay đi luôn, khóa cửa lại sau lưng, không gây ra một tiếng động nào. Đây là loại cửa có thể khóa từ bên trong mà không cần chìa. Chỉ cần ấn nhẹ vào nút bám trên nắm cửa rồi đóng lại.
Ngày hôm sau, 19 tháng Tư, Akira Yamamoto trở nên lo lắng khi nghĩ tới người mà anh ta nhìn thấy ngủ trong căn hộ. Nếu người này vẫn tiếp tục ở đó? Và cái mùi lạ bốc lên trong căn hộ? Lo lắng. Yamamoto quay trở lại với chìa khóa căn hộ. Khi nhìn qua cửa sổ thấy người phụ nữ vẫn nằm nguyên vị trí cũ, Yamamoto mở cửa bước vào trong và phát hiện ra thi thể của Sato.
Ngoài vết bóp cổ, trên đầu, mặt và chân tay Sato còn nhiều vết bầm giập chứng tỏ nạn nhân bị đánh bằng một vật tù và trên người nạn nhân còn có các vết xước như thể nạn nhân bị kéo lôi trên sàn. Xuất huyết ở phần mềm quanh vùng cổ và dọc theo tuyến giáp.
Phần 8: Những hành vi của bị cáo sau khi thi thể nạn nhân được phát hiện
Tối ngày 19 tháng Tư năm 2000, ngay sau khi đi làm ở khách sạn Dreamer về, bị cáo được một cảnh sát đang điều tra vụ án hỏi thăm theo thông lệ, đối với những người trong khu vực xung quanh hiện trường. Thìn, Huang và Chen-yi vẫn đang ở chỗ làm. Nhân viên cảnh sát điều tra hỏi bị cáo rất nhiều câu hỏi liên quan tới chỗ ở và công việc hiện tại của bị cáo rồi đi khỏi. Ngay khi cảnh sát đi khỏi, bị cáo cố gắng liên lạc với những người bạn cùng phòng khác.
Bị cáo gọi di động cho Chen-yi và nói chuyện được với Chen-yi lúc này vẫn đang làm việc ở Dogenzaka. “Cảnh sát vừa tới đây,” bị cáo nói. “Rất đông. Họ cho tôi xem ảnh một người phụ nữ mà tôi không hề biết mặt. Họ nói họ sẽ quay trở lại. Nếu họ biết anh cũng ở đây thì họ sẽ phát hiện ra là chúng ta không có giấy tờ.”
Nghe vậy Chen-yi lập tức gọi điện thoại cho Huang tại nơi làm việc ở quán cà phê Mirage ở Koenji, quận Suginami. Anh ta định bảo Huang đừng về nhà nhưng Huang đã rời khỏi chỗ làm và trên đường đi về. Chen-yi liền gọi tới chỗ làm của Thìn ở tòa nhà Phong Lan, ở phố Kabuki, quận Shinjuku. Sau khi kể cho Thìn nghe chuyện vừa xảy ra cả hai người bọn họ quyết định tới ở nhờ một người quen của Thìn.
Trên đường về, không hay biết chuyện gì đã xảy ra nên khi gặp một cảnh sát cho xem ảnh nạn nhân thì Huang khai ra là anh ta đã từng gặp nạn nhân trước đó. Và anh ta cũng khai là bị cáo có chìa khóa một căn hộ ở tòa nhà Green Villa.
Vào lúc đó bị cáo rời khỏi căn hộ 404 ở Matoya và ngủ qua đêm tại một khách sạn con nhộng. Ngày hôm sau cảnh sát tới khách sạn Dreamer để thẩm vấn bị cáo nhưng bị cáo không tới làm việc. Ngày 21 tháng Tư, bị cáo rời khỏi khách sạn và tới nhà Chen ở thành phố Niiza, tỉnh Saitama. Bị cáo yêu cầu Chen che giấu tội cho mình bằng cách nói với cảnh sát rằng bị cáo đã trả chìa khóa căn hộ 103 tòa nhà Green Villa cho Chen từ ngày 8 tháng Tư, một ngày trước khi xảy ra án mạng. Bị cáo đưa cho Chen 100.000 yen. Chen thông báo với bị cáo là anh ta đã nói chuyện với cảnh sát và từ chối làm theo yêu cầu của bị cáo. Chen còn nói thêm rằng cảnh sát đang truy tìm bị cáo vì biết rằng anh ta có chìa khóa của căn hộ và khuyên bị cáo nên ra đầu thú. Bị cáo từ chối.
Trên đường trở về từ nhà Chen, bị cáo bắt đầu lo lắng vì không có tiền. Bị cáo quyết định tới chỗ làm để xin nghỉ việc và đòi tiền lương. Thế là bị cáo đi tới khách sạn Dreamer ở Muashino.
Khi thẩm vấn chủ khách sạn Dreamer, cảnh sát điều tra phát hiện ra rằng bị cáo hoặc đã nhập cảnh trái phép hoặc làm việc mà không có visa lao động hợp pháp. Vì vậy cảnh sát đã bắt giữ bị cáo ngay ngày hôm đó khi anh ta tới lấy tiền lương và buộc tội nhập cảnh trái phép và làm việc không có giấy tờ hợp pháp. Bị cáo bị đem ra toà xử ngày 30 tháng Sáu cùng năm với hai tội danh nói trên.
Tiếp đó, cảnh sát phát hiện ra rằng dấu vân tay của bị cáo trùng hợp với dấu vân tay tìm thấy trên hiện trường vụ mưu át Yuriko Hirata ở căn hộ 205 tòa nhà Hope Heights. Cảnh sát cũng tìm được chiếc dây chuyền của nạn nhân trong số đồ đạc của bị cáo. Sau một cuộc điều tra tỉ mỉ, bị cáo đã bị buộc tội giết hại cả Hirata và Sato.
“NHỮNG TỘI ÁC MÀ TÔI ĐÃ GÂY RA”:
LỜI KHAI CỦA BỊ CÁO ZHANG ZHE-ZHONG
NGÀY 10 THÁNG SÁU, NĂM THỨ MƯỜI HAI HEISEI (2000)
Văn bản nguyên gốc được viết bằng tiếng Trung. Một nhân viên thi hành án đã hướng dẫn bị cáo viết lời khai sau khi yêu cầu bị cáo tái hiện hiện trường tội ác với một hình mẫu ma nơ canh giống người thật ở đồn cảnh sát.
Cảnh sát điều tra Takahashi nói, “Hãy kể về đời anh từ trước tới giờ, về tất cả những điều thối tha mà anh đã làm, từng chi tiết một. Đừng có che giấu điều gì.” Thì, tôi đã trải qua một cuộc sống nhọc nhằn, tay làm hàm nhai, tôi đã cố gắng hết sức mình. Thậm chí tôi chẳng có thời gian để nhìn lại hay suy ngẫm về những gì đã qua. Tôi không thể nhớ nổi những chuyện đã xảy ra trong quá khứ xa vời và tôi cũng không muốn nhớ lại chúng làm gì. Vì chúng rất buồn, rất đau thương, và tôi đã phải khóa chặt chúng lại trong một căn phòng bỏ quên của ký ức. Có quá nhiều kỷ niệm mà tôi cố quên đi.
Nhưng cảnh sát điều tra Takahashi đã tử tế cho tôi cơ hội được kể lại câu chuyện của mình nên tôi sẽ cố hết sức để đáp ứng được yêu cầu của ông. Tuy nhiên làm điều đó cũng có nghĩa là tôi sẽ phải lục lại cuộc đời khốn nạn của mình với những lỗi lầm ngu ngốc mà tôi đã từng phạm phải - những lỗi lầm không thể nào sửa chữa được. Nghe nói tôi là nghi phạm chính trong cái chết của cô Kazue Sato nhưng tôi hoàn toàn vô tội. Tôi hy vọng lời khai này sẽ rửa sạch tên tuổi của tôi trong vụ án trên.
Ở Trung Quốc, số phận của một người được quyết định bởi quê quán nơi anh ta sinh ra. Đó là điều chúng ta vẫn thường nghe nói. Nhưng đối với tôi đó không phải chỉ là một câu nói suông. Mà là sự thật. Nếu tôi sinh ra ở một thành phố như Thượng Hải, Bắc Kinh hay Hồng Kông chứ không phải ở tận miền núi Tứ Xuyên thì cuộc đời của tôi sẽ tràn đầy hứa hẹn. Sẽ là một cuộc đời tươi sáng và hạnh phúc, tôi dám chắc là thế. Và tôi hẳn sẽ không phải kết thúc trong một mớ bòng bong ở một đất nước xa lạ như thế này!
Tôi đúng là sinh ra ở Tứ Xuyên. Chín mươi phần trăm dân số Trung Quốc sống ở các khu vực nằm sâu trong đất liền như Tứ Xuyên nhưng chỉ sở hữu mười phần trăm tài sản quốc gia. Phần còn lại thuộc về Thượng Hải, Quảng Châu và các thành phố cảng khác. Chỉ mười phần trăm dân số sống ở các thành phố cảng sở hữu chín mươi phần trăm tài sản quốc gia. Sự khác biệt kinh tế giữa những người sống ở duyên hải và những người trong nội địa ngày càng trở nên sâu sắc.
Với những người sống trong nội địa như chúng tôi thì chỉ có thể nghiến chặt răng trong tuyệt vọng khi ngửi thấy mùi tiền và ngắm sắc vàng lấp lánh mà không bao giờ được sở hữu. Chúng tôi không có cách nào khác là phải tự thỏa mãn với cây kê, hạt thóc, mặt mũi, tóc tai chúng tôi lúc nào cũng bám đầy bụi trấu ngoài đồng.
Ngay từ khi còn nhỏ, bố mẹ và các anh chị tôi đã luôn bảo, “Zhe-zhong là đứa trẻ thông minh nhất trong làng.” Tôi không viết điều này ra để vỗ ngực tự hào mà chỉ để bạn hiểu thêm về điều kiện sống ở nơi tôi được nuôi dạy. Chắc chắn tôi là đứa trẻ sáng láng hơn rất nhiều bạn bè đồng lứa. Tôi biết đọc và biết viết rất nhanh. Tôi cũng có thể làm tính một cách dễ dàng. Để vươn xa hơn và mở mang kiến thức, tôi muốn được tiếp tục đi học và lên lớp. Nhưng gia đình tôi rất nghèo. Họ không đủ khả năng để gửi tôi đi học ở trường tiểu học trong làng. Khi nhận ra rằng những giấc mơ của tôi sẽ không bao giờ trở thành hiện thực, giống như một cái cây mà rễ bị chặn và xoắn lại để không lớn thêm được nữa, tôi bắt đầu nuôi dưỡng trong lòng một mối tị hiềm đen tối, một sự đố kỵ xấu xa. Tôi tin rằng số phận đã an bài việc tôi sinh ra trong cảnh bần cùng.
Đi tìm việc làm ở nơi khác là cách duy nhất để một người như tôi có thể thoát khỏi số phận này. Khi tới Quảng Châu và Thâm Quyến, tôi đã làm việc chăm chỉ và thầm nghĩ rồi mình cũng sẽ được hưởng một cuộc sống sung túc và có tiền dành dụm như những người dân ở đây. Nhưng sau khi tới Nhật, tôi lập tức bị ám ảnh bởi ý nghĩ rằng mọi tính toán của tôi thật hết sức viển vông. Tại sao? Vì sự thịnh vượng của nước Nhật còn lớn hơn rất nhiều các thành phố cảng của Trung Quốc. Nếu không phải là người Trung Quốc, nếu sinh ra là người Nhật, hẳn tôi sẽ không phải nhọc nhằn, khổ sở thế này. Ngay từ khi chào đời, tôi sẽ được nếm ê hề những món ngon mà chỉ đụng tới một nửa, một nửa vứt sọt rác. Muốn uống thì chỉ cần vặn vòi nước. Tôi có thể tắm táp thoải mái và khi muốn đi sang làng bên cạnh, tôi không phải đi bộ hay chờ một chuyến xe buýt đôi khi không bao giờ tới mà có thể đón một chuyến tàu nhanh xuyên qua các ga ba phút một lần. Tôi có thể học cái gì tôi muốn, vào thời điểm mà tôi lựa chọn và theo đuổi sự nghiệp mình tâm huyết. Về già tôi sẽ an hưởng những giây phút cuối đời dưới sự chăm sóc của các nhân viên y tế tuyệt vời. Khác biệt giữa cuộc sống tôi từng có ở Trung Quốc và cuộc sống mà tôi có thể có tại Nhật Bản thật là lớn, chỉ cần nghĩ tới điều ấy thôi là tôi đã thấy buồn lắm rồi.
Tôi đã mơ về Nhật Bản, về đất nước tự do và màu nhiệm này từ rất lâu, tôi ghen tị với tất cả những người sống ở đó. Nhưng giờ đây tôi lại đang bị cầm tù trên chính cái đất nước mà tôi ao ước một cách tuyệt vọng từ bấy lâu nay. Thật trớ trêu làm sao! Hay đúng hơn là thật khốn nạn! Ở nhà, từ làng quê nghèo khó của mình, mẹ già đang đau ốm mong chờ một bức thư của con trai, mỗi ngày chậm chạp trôi qua, dài như một thế kỷ. Nếu bà biết được tôi đã trở thành một kẻ thế này, tôi sẽ không thể tiếp tục sống ở trên đời này nữa.
Thưa các nhân viên điều tra, các thanh tra cảnh sát và thưa Quý tòa, tôi cầu xin các ngài hãy cho tôi trở về quê hương mình ở Trung Quốc sau khi mãn hạn tù vì tội mưu sát Yuriko Hirata. Hãy cho tôi được dùng nốt khoảng thời gian ngắn ngủi còn lại trên đời này cày xới mảnh đất cằn cỗi của quê hương và suy ngẫm lại cuộc đời cũng như những tội lỗi mà tôi đã phạm phải. Tôi van xin các ngài hãy khoan hồng. Xin quý tòa hãy rủ lòng thương.
Suốt đời mình tôi bị người khác chê cười. Trong cái làng xơ xác của tôi, nhà tôi là nghèo nhất. Chúng tôi sống trong một cái hầm nên người làng khinh thường chúng tôi. Họ tung tin đồn nhảm rằng cha tôi bị nguyền rủa bởi thần Nghèo. Khi được mời đi ăn cỗ cưới hãy lễ hội trong làng, cha tôi luôn ngồi ở chỗ thấp nhất.
Cha tôi là một người Hakka. Khi còn nhỏ, bố ông mang ông từ Huệ An, tỉnh Phúc Kiến tới sống tại một làng nhỏ ở Tứ Xuyên, trong cái góc hẻo lánh này. Người dân địa phương đều là người Hán. Từ trước tới nay chưa có người Hakka nào tới ở đây nên họ không cho phép bố tôi được xây nhà. Vì thế chúng tôi phải sống trong một cái hầm.
Ông nội tôi vốn làm nghề thầy bói. Nghe kể khi ông bắt đầu hành nghề ở làng, công việc rất thuận lợi nhưng chẳng bao lâu người ta bắt đầu không ưa ông nữa vì ông toàn dự đoán vận hạn và tai ương. Cuối cùng ông không thể hành nghề nữa và gia đình chúng tôi lại càng trượt sâu vào cảnh đói nghèo. Ông nội từ chối không xem bói cho ai nữa ngay cả khi họ van xin ông. Thậm chí ông không nói chuyện với ai ở nhà. Nếu có lúc nào ông mở miệng thì những người xung quanh lập tức trở nên cảnh giác, lo lắng về những dự báo đầy rủi ro của ông. Mặc dù vậy, ông vẫn một mực tâm huyết với nghiệp tiên tri vận hạn của mình và điều đó khiến người ta trở nên ghét ông. Và thế là ông nội quyết định tốt nhất là không nên mở miệng ra nói gì.
Sau một thời gian ông nội cũng không đi lại nữa. Râu và tóc ông mọc dài ra và ông ngồi trong hầm cả ngày giống như Bồ Đề Đạt ma. Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh ông nội ngồi im như tượng trong bóng tối ở cuối hầm. Mọi người ở trong nhà dần trở nên quen với điều đó và thậm chí chẳng còn để ý tới ông nữa. Cứ tới bữa tối thì mẹ đặt một bát cơm ở trước mặt ông. Khi thức ăn hết thì có nghĩa là ông nội vẫn còn sống. Và thực tế là khi ông chết, chúng tôi mất một thời gian mới phát hiện ra.
Một lần khi không có ai ở trong nhà, ông nội gọi tôi lại. Lúc đó tôi đang học tiểu học. Vì gần như chưa bao giờ nghe ông nội nói lời nào nên tôi rất ngạc nhiên và quay sững lại nhìn ông. Ông nội ngồi trong bóng tối cuối hang, mắt nhìn tôi chằm chằm.
“Trong gia đình chúng ta có một kẻ sát nhân,” ông nói.
“Ông nội! Ông nói gì cơ ạ? Ông nói ai cơ?”
Tôi đòi ông nội giải thích nhưng ông không nói gì nữa. Lúc đó bị đầu độc bởi ý nghĩ mình là một đứa trẻ khôn ngoan, sáng dạ nên tôi cho rằng đó chỉ là những lời nói nhảm của một người già sống dở chết dở nên không thèm bận tâm. Chẳng bao lâu thì tôi quên mất.
Hằng ngày các thành viên trong gia đình tôi làm việc trên các thửa ruộng trên sườn núi với sự trợ giúp của một con bò già tiều tụy. Ngoài nó ra chúng tôi còn có hai con dê. Anh trai tôi, Gen-de, có nhiệm vụ chăm sóc chúng. Anh ấy là con trai thứ hai trong nhà. Gia đình chúng tôi trồng các loại lương thực, chủ yếu là thóc gạo. Bố mẹ và anh trai cả của tôi sẽ dậy từ tinh mơ trước khi mặt trời mọc để đi làm và trời tối mịt mới về. Mặc dù vậy số lượng lương thực mà chúng tôi làm ra vẫn không đủ nuôi tất cả các miệng ăn trong gia đình. Chúng tôi lại hay gặp phải hạn hán. Mỗi khi xảy ra hạn hán là cả nhà không có gì ăn trong nhiều tháng trời. Những lúc đó tôi chỉ nghĩ tới một điều là lớn lên tôi sẽ ăn no nê cơm gạo trắng cho dù có phải chết.
Vì đó là cuộc sống mà chúng tôi bươn chải nên ngay từ giây phút nhận thức được những gì đang xảy ra xung quanh mình, tôi lập tức xác định là mình phải rời khỏi đây ngay khi có thể và tìm một việc làm ở đâu đó. Tôi biết là đất đai của gia đình sẽ được truyền cho con trai cả, An-ji. Chị gái Mei-hua của tôi thì đã bị gả đi lấy chồng ở làng bên từ năm mười lăm tuổi. Tôi biết rằng thu hoạch từ những cánh đồng và sữa từ vài con dê ít ỏi sẽ không đủ nuôi anh trai Gen-de, tôi và em gái Mei-kun.
Tôi cách anh trai cả An-ji tám tuổi và anh trai thứ Gen-de ba tuổi. Khi tôi mười ba tuổi một tai họa đã giáng xuống gia đình tôi, An-ji là nguyên nhân gây ra cái chết của Gen-de. Tôi kinh hoàng nghĩ tới lời tiên đoán của ông nội và cố giữ chặt lấy em gái Mei-kun vì sợ hãi.
An-ji và Gen-de cãi nhau rồi An-ji đánh Gen-de ngã xuống. Đầu Gen-de đập vào một mấu đá trong hầm và không cử động nữa. Công an tới xã điều tra nhưng bố tôi giấu nhẹm sự việc và nói là Gen-de trượt chân, tự ngã và đập đầu vào đá. Vì nếu An-ji bị buộc tội giết em mình, anh ấy sẽ bị đi tù và không còn ai ở nhà làm ruộng. Sau khi ra tù sẽ không còn chốn dung thân và sẽ phải tự bươn chải một mình.
Làng tôi lại thừa mứa đàn ông. Làng bên nghe nói còn tới mức bốn người phải cưới chung một vợ. Nghèo khổ thế là cùng. Nguyên nhân hai anh tôi cãi nhau cũng chính là vì chuyện cưới vợ. Gen-de đã chế nhạo An-ji vì không có khả năng kiếm được cho mình một cô dâu.
Nhưng sau khi giết Gen-de, An-ji hoản toàn thay đổi. Anh ấy bắt đầu cư xử hệt như ông nội tôi, không nói chuyện với ai cả. An-ji hiện vẫn sống ở làng với bố mẹ tôi. Anh ấy không bao giờ lấy vợ.
Có lẽ gia đình tôi đúng là đã bị nguyền rủa. Nạn nhân của một niềm đam mê bạo lực, tôi và anh trai cả của mình đều trở thành những kẻ sát nhân. Giống như một sự trừng phạt, anh trai tôi phải sống cả đời còn lại trong cô đơn và nghèo khó. Còn tôi, với tội ác giết hại Yuriko Hirata, tôi sẽ bị giam giữ ở một đất nước xa lạ. Em gái yêu quý của tôi thì đã chết trên đường vượt biên sang Nhật. Giờ tôi chẳng còn lại gì.
Ông nội tôi có lẽ đã bị ép rời khỏi nhà mình ở Phúc Kiến và trôi giạt tới Tứ Xuyên. Giá như những lời tiên đoán của ông không thảm khốc như thế, giá như ông không tìm cách đẩy mọi người ra xa mình… đó là tất cả những gì tôi nung nấu trong đầu khi nghĩ tới cái thời kì ấy. Tôi chắc là ông nội đã nhìn thấy sự lụn bại tăm tối của gia đình. Chắc chắn đó là lý do tại sao những ngày cuối đời ông giống như một tảng đá, im lìm trong hầm tối.
Ai mà biết được, nếu ông nội nói, “Sát nhân trong nhà này là cháu, hãy cẩn thận,” hay cảnh báo tôi về điều đó thì có lẽ tôi sẽ thận trọng hơn. Và nếu không tới Nhật thì tôi sẽ không giết hại Yuriko Hirata và em gái của tôi sẽ không phải chết và tôi cũng không trở thành nghi phạm trong vụ sát hại Kazue Sato. Tôi có thể đã làm việc ở một nhà máy gần làng và học cách hài lòng với việc kiếm được một nhân dân tệ mỗi ngày. Và cuộc đời của tôi sẽ trôi qua như thế. Khi nghĩ lại mọi chuyện có thể đã xảy ra theo hướng đó, tôi không khỏi ân hận, nuối tiếc.
Việc tôi đã làm với cô Hirata là điều không thể tha thứ được. Tôi cũng không có cách nào để xin thứ lỗi. Nếu được, tôi sẵn sàng đổi mạng này cho cô ấy.
Tuy nhiên khi mười ba tuổi, tôi không bao giờ có thể tưởng tượng ra rằng tôi lại có thể rơi vào nông nỗi này. Tôi đã không chịu đựng nổi khi nhìn thấy bố mẹ tôi khổ tâm và phải nghe những lời xì xầm độc ác của dân làng về gia đình mình. Tôi ghét An-ji. Nhưng cảm xúc của con người thật là kỳ lạ vì tận đáy lòng mình tôi lại thấy cảm thông với anh ấy.
Xét cho cùng hành động của anh ấy không phải là không có lý do. Thậm chí tôi cỏn thấy hành vi của Gen-de rất đáng trách. Anh ấy thường làm những chuyện ngu xuẩn và lúc nào cũng chạy theo đản bà. Anh lấy cắp tiền của bố mẹ để nhậu nhẹt. Đúng là một người chả được tích sự gì. Vì sao? Vì vài người trong làng còn bắt gặp anh ấy làm chuyện đó với lũ dê và tin đồn này đã khiến cha tôi vô cùng xấu hổ.
Thú thực, Gen-de đã gây ra bao tai tiếng cho gia đình khiến tôi cảm thấy nhẹ cả người khi anh ấy mất và An-ji người kế tự ruộng đất của gia đình không phải đi tù. Nếu An-ji mà đi tù thì tôi sẽ được hưởng chỗ ruộng đất đó nhưng đó sẽ không phải vận may mà là vận hạn. Bị trói vào mảnh đất cỏn con đó, tôi sẽ buộc phải sống cả đời lao động nặng nhọc không biết gì về thế giới văn minh bên ngoài.
Đám đông dân chúng nghèo khó ở nội địa Trung Hoa đại lục có được một điều tốt: Đó là tự do. Chả ai quan tâm để ý tới chúng tôi, chúng tôi cứ tự thân vận động. Và chúng tôi bám vào cái tự do ấy. Chúng tôi có thể tự do di chuyển, làm những gì mình muốn và chết như chó hoang. Nhưng lúc đó tôi chỉ nghĩ đến mỗi một việc duy nhất là khi nào đủ lớn, tôi sẽ rời khỏi nơi này và lên thành phố.
Sau khi anh trai chết, tôi thế chỗ anh và nhận nhiệm vụ chăn dắt đàn dê. Đó là ước nguyện của cha tôi. Nhưng khi tròn mười tám tuổi, tôi xin việc làm tại một nhà máy nhỏ ở gần đó, nơi sản xuất mũ cói và gối mây. Tôi có thể làm việc này vì chúng tôi đã bán đi lũ dê khi mẹ bắt đầu mắc căn bệnh đau dạ dày. Tôi thích làm việc ở nhà máy, tạo ra các thành phẩm từ rơm rạ hơn là đi chăn dê hay làm việc trên cánh đồng. Nhưng lương ở đây rất thấp, tôi chỉ kiếm được một nhân dân tệ mỗi ngày. Thế nhưng số tiền ít ỏi đó cũng đã là xa xỉ đối với một gia đình túng quẫn như chúng tôi.
Cũng vào quãng thời gian ấy, người con trai thứ hai và thứ ba ở trang trại bên cạnh chúng tôi rậm rịch chuẩn bị đi làm ở một trong những thành phố cảng. Số ruộng mà họ có không đủ nuôi tất cả các miệng ăn trong gia đình mà nhân công ở làng thì thừa mứa. Không có việc làm, cũng không có ai để lấy làm vợ nên phần lớn thanh niên trẻ luẩn quẩn trong làng giống như Gen-de, thối chí, cùng quẫn và chỉ biết gây rối.
Một người bạn mà tôi biết từ khi còn nhỏ, Jian Ping(1), đã tới thành phố Chu Hải, tỉnh Quảng Đông, sau này trở thành một đặc khu kinh tế của Trung Quốc. Cậu ta làm việc cho một công ty xây dựng, trộn bê tông và chuyên chở nguyên vật liệu xây dựng. Với số tiền mà cậu ta gửi về, gia đình cậu ta mua được vô tuyến màu, xe máy và những thứ khác mà chúng tôi cho là vô cùng xa xỉ. Tôi ghen tị tới chết đi được.
1. Kiến Bình hoặc Kiện Bình.
Tôi cũng muốn lên thành phố càng sớm càng tốt. Nhưng lấy đâu ra tiền để đi? Số tiền mà tôi kiếm được ở nhà máy, một tệ một ngày, quá ít không đủ để dành. Nếu muốn có một khoản nào đó thì tôi phải đi vay. Nhưng vay ai bây giờ? Trong làng chẳng ai có tiền cho vay cả. Nhưng tôi phải tìm cách để có thể lên thành phố như Jian Ping. Đó là giấc mơ duy nhất của tôi.
Vào năm 1988, một năm trước sự kiện Thiên An Môn, tin tức lan truyền khắp làng là Jian Ping đã chết. Từ thành phố Chu Hải, cậu ta có thể nhìn thấy Macao phía bên kia vịnh nên đã bị chết đuối trong lúc tìm cách bơi sang phía bên kia. Đó là theo lời người viết thư thông báo cái chết của Jian Ping.
Jian Ping đã buộc giấy tờ và tiền vào trong một cái bọc và buộc lên đầu. Cậu ta đợi mặt trời lặn để đi ra ngoại ô thành phố Chu Hải. Và rồi, mắt hướng về Macao, cậu ta bắt đầu bơi. Trời tối đen như mực, cậu ta đã bơi hàng cây số với ý định bí mật xâm nhập hải phận Macao. Với một người Nhật, hành động đó của cậu ta có vẻ mạo hiểm tới khó tin. Nhưng tôi có thể cảm nhận rõ mồn một cái cảm giác đó của cậu ta, tới mức tim tôi cũng thấy đau nhói.
Chu Hải và Macao nối với nhau bằng một dải đất. Bạn có thể đứng trên đường phố Chu Hải nhìn sang Macao. Một đất nước khác trải ra trước mắt bạn, chỉ cách đó vài bước chân với cùng một chủng người giống như bạn. Và các sòng bạc. Macao có rất nhiều sòng bạc. Và tiền. Nơi nào có tiền nơi đó con người tự do đi lại và làm những gì mình muốn. Ở Macao, người ta được hưởng mọi thứ tự do, vì ở đó có tất cả. Nhưng cái tự do đó nghe nói được gìn giữ bởi những lính biên phòng canh gác xung quanh một hàng rào điện. Liệu trên thế gian này còn chỗ nào tàn bạo hơn thế nữa?
Nhưng không có bức tường chắn nào dưới nước. Sóng biển tự do vượt đại dương. Tôi quyết định mình cũng sẽ cố bơi tới bờ tự do. Tôi sẽ bơi sang Macao, thậm chí sang tận Hồng Kông.
Ở Trung Quốc, số phận một người được quyết định bởi quê quán nơi anh ta sinh ra là một thực tế không thể chối cãi. Jian Ping đã mạo hiểm mạng sống của mình trong nỗ lực thay đổi số phận tiền định. Tôi thay đổi ý định khi nghe tin đó. Tôi xác định sẽ thế chỗ Jian Ping trong nỗ lực vượt đại dương để cập bến một đất nước tự do nơi tôi có thể kiếm bao nhiêu tiền tùy thích.
Cuối năm ấy, gia đình tôi bắt đầu bàn bạc chuyện có người xin cưới Mei-kun. Đối với một gia đình nghèo khó như chúng tôi thì đó là một đám tốt. Mặc dù chú rể là một người cùng làng, gia đình khá giả nhưng giữa hai người có một sự chênh lệch tuổi tác khá lớn. Mei-kun mới mười chín tuổi trong khi chú rể đã ba mươi tám. Đó là một người lùn tịt, xấu xí. Có lẽ đó là lý do tại sao anh ta vẫn chưa có vợ.
“Em sẽ không chấp nhận lời cầu hôn của anh ta chứ?” tôi hỏi em gái mình. “Em có thể có được một cuộc sống tốt hơn thế này.”
Mei-kun cúi xuống và lắc đầu.
“Em dứt khoát từ chối. Em chúa ghét cái của khỉ đó cho dù hắn ta có nhiều tiền hơn chúng ta. Hắn ta quá lùn, tới em còn phải nhìn xuống, đúng không? Không, em sẽ không lấy hắn. Nếu mọi người bắt em thì em thà đi làm ruộng còn hơn. Em không muốn trở thành bà già như chị.”
Tôi nhìn em gái mình. Những gì con bé nói không phải là không có lý. Chị gái chúng tôi, hơn tôi sáu tuổi, đã được gả vào một gia đình không khá giả hơn chúng tôi là mấy và đẻ sòn sòn hết đứa này đến đứa khác cho tới khi khô héo như một bà già. Nhưng Mei-kun… Mei-kun là một đứa con gái vô cùng quyến rũ, rất hợp nhãn tôi. Hai má tròn trịa, mũi thanh tú. Tay chân con bé dài, mảnh mai, duyên dáng trong mỗi cử động. Tứ Xuyên vốn nổi tiếng vì con gái đẹp. Nghe nói con gái Tứ Xuyên đi tới bất cứ nơi nào trên thế giới cũng được đón tiếp nồng hậu. Em gái tôi được thừa hưởng dòng máu phiêu lưu của ông nội. Nó là đứa con gái xinh nhất mấy làng quanh đây, lại rất cứng đầu.
“Nếu có ai được như anh thì em sẽ lấy,” Mei-kun sốt sắng nói. “Em đã xem tất cả các diễn viên trên vô tuyến màu nhà Jian Ping mà chả thấy ai được như anh.”
Tôi rất lấy làm xấu hổ vì nghe có vẻ huênh hoang, nhưng tôi phải thú nhận rằng trong làng ai cũng nghĩ tôi là một gã điển trai. Dĩ nhiên đó là một làng nhỏ. Nếu đến các thành phố lớn tôi hẳn sẽ tìm thấy nhiều người ưa nhìn hơn mình. Mặc dù vậy, lời khen của em gái cũng khiến cho tôi cảm thấy tự tin. Và khi tới Nhật Bản, mọi người thường bảo trông tôi giống diễn viên Takashi Kashiwabara. Mei-kun nhìn thẳng vào mắt tôi và nói, “Chúng mình phải cùng lên vô tuyến mới đúng, anh và em. Chúng mình trông đều ưa nhìn và có gu thẩm mỹ tốt. Em cá là chúng mình sẽ kiếm được khối tiền từ việc đóng phim. Nhưng dĩ nhiên chúng ta sẽ chả bao giờ có được cái cơ hội đó chừng nào còn ở lại cái làng này. Em thà chết còn hơn là phải ở lại đây. Ta cùng lên Quảng Châu đi. Thật đấy. Anh nghĩ sao?”
Em gái tôi nhìn xung quanh cái hang mà chúng tôi đang sống - ngôi nhà tối tăm, lạnh lẽo và ẩm ướt của chúng tôi. Chúng tôi có thể nghe thấy bên ngoài mẹ và An-ji đang ủ rũ tính chuyện lúc nào phải gieo hạt kê. Tôi không thể chịu đựng cái nơi này thêm được nữa. Tôi ngán quá rồi. Nghe cái giọng của An-ji tôi nghĩ em gái tôi cũng có chung cảm xúc. Con bé chìa tay ra, cầm lấy tay tôi.
“Hãy đi khỏi đây. Hãy đi và sống trong một ngôi nhà bằng bê tông, chỉ hai chúng ta thôi. Một ngôi nhà có máy bơm, không cần phải xách nước, một ngôi nhà có đường điện chạy trong tường, một ngôi nhà sáng sủa ấm áp với nhà vệ sinh và buồng tắm. Chúng ta có thể mua một cái vô tuyến và một cái tủ lạnh, và cả máy giặt nữa. Sống trong một ngôi nhà như thế với anh sẽ thật là tuyệt.”
Chúng tôi mắc điện vào hầm hai năm trước. Tôi đi ăn trộm được vài cái dây điện và nối chúng với ổ điện ở gần nhất.
“Anh cũng muốn đi, tin anh đi. Nhưng chúng ta phải để dành tiền đã. Giờ anh chả có xu nào.”
Em gái tôi nhìn tôi như một thằng ngốc.
“Anh nói gì vậy? Chờ anh để dành được tiền thì em đã trở thành gái già. Mà nếu đợi thì nghe nói vé tàu cũng sẽ tăng giá đấy.”
Tôi cũng nghe người ta đồn vậy. Rằng vé tàu sẽ lên giá sau tết âm lịch. Tin đó khiến tôi chỉ muốn bỏ đi nhanh hơn, trước khi vé tàu đắt lên. Nhưng mà tôi lấy tiền đâu ra để chi phí cho chuyến đi? Đúng lúc đó thì Mei-kun thì thầm, “Nếu em đồng ý lấy người đàn ông đó, hắn ta sẽ tặng em một số tiền làm quà ăn hỏi đúng không? Tại sao chúng ta không sử dụng số tiền ấy?”
Một đề nghị thật điên rồ, nhưng chúng tôi cũng chẳng nghĩ ra cách nào khác để thoát khỏi chỗ này. Miễn cưỡng, tôi gật đầu chấp nhận ý tưởng bỏ trốn bằng số tiền đó.
Khi người cầu hôn Mei-kun nghe tin con bé đồng ý thì vô cùng sung sướng. Anh ta đã mang tất cả số tiền mà anh ta dành dụm được từ mấy chục năm nay tới nhà tôi. Tổng cộng vào khoảng 500 tệ, nhiều hơn số tiền cả gia đình tôi kiếm được trong một năm. Bố tôi rất vui và cất tiền vào tủ. Tôi và em gái đã lấy cắp chúng và bỏ chạy khỏi làng ngày mồng hai Tết. Cẩn thận để không bị bắt gặp, chúng tôi đã chạy tới trạm xe buýt ở ngoại ô thị trấn trước khi trời sáng để đón chuyến xe đầu tiên.
Sớm thế mà chiếc xe buýt đã chật ních người. Mọi người cũng như chúng tôi nghe tin đồn về việc tăng giá vé tàu nên ai cũng muốn lên thành phố trước đó. Em gái tôi và tôi hăm hở chen lên xe buýt cùng với hành lý của mình. Chúng tôi sẽ phải đứng suốt đường đi, kéo dài hơn hai ngày trời. Đã đi tới đây rồi, tôi động viên em gái mình, thì cầm cự thêm một chút nữa là sẽ tới được Quảng Châu như mơ ước. Và tôi mỉm cười.
Khi chiếc xe buýt rốt cuộc tới được chặng cuối cùng, một ga xép quê mùa lẻ loi, trời bắt đầu đổ một cơn mưa tuyết. Mệt phờ, tôi nhìn ra bên ngoài với hi vọng tìm được một chỗ trú mưa và rồi bắt gặp một cảnh tượng hãi hùng khiến tôi phải siết chặt lấy tay em gái.
Một đám đông nhung nhúc đang ngồi dưới nền đất ướt sũng ngay trước cửa ga. Phải có tới nghìn người, phần lớn là thanh niên nam nữ, mưa quật phần phật trên người họ, quần áo họ trĩu nặng, sũng nước. Với những bọc nylon đựng đầy quần áo, nồi xoong và các thứ vật dụng khác, họ kiên nhẫn chờ tàu. Vì quanh ga chỉ có hai nhà trọ nên hẳn đã hết chỗ. Cũng chả có cửa hàng cửa hiệu gì. Chỉ có duy nhất một biển người đang im lặng ngồi đợi tàu. Giữa đám đông mưa dầm đôi khi thấy bay lên một làn hơi trắng lơ lửng trôi dạt trong không trung.
Không chỉ có riêng xe buýt của chúng tôi đưa khách tới ga. Chúng tôi vừa ra khỏi xe là đã có xe khác đi tới, chiếc này nối tiếp chiếc kia, chiếc nào cũng đông khách như vậy. Những người trên xe có vẻ đến từ những làng quê xa xôi, thậm chí còn hẻo lánh hơn cả làng tôi nhưng cũng nghèo khổ như thế. Đám đông chờ trước cửa ga tiếp tục phình lên. Những người mới đến không thể nào tới gần được cửa ga. Họ đứng chen chúc, thỉnh thoảng có tiếng cãi cọ, xô đẩy nhau. Các nhân viên bảo vệ đường sắt được huy động quanh đám đông nhưng chẳng thể làm được gì.
Chưa nói tới chuyện lên tàu, chỉ lại gần được chỗ bán vé đã là may lắm rồi. Người tôi như muốn bốc hỏa. Chúng tôi không thể trở về nhà sau khi lấy cắp tiền ăn hỏi. Nhưng ngay cả cô em gái cứng đầu của tôi cũng có vẻ nản chí và sắp bật khóc đến nơi.
“Chúng ta phải làm gì bây giờ? Tình hình này thì phải mất một tuần mới lên được tàu. Càng đợi thì càng có thêm nhiều người mới tới và giá vé thì sẽ tăng lên.”
“Chúng ta sẽ tìm ra cách thôi!”
Tôi vừa cố gắng trấn an em gái mình vừa liều lĩnh chen lên phía trước để chui vào một nhóm người đứng gần ga hơn. Mọi người bắt đầu quát tháo ầm ĩ. “Ở đây phải xếp hàng. Quay trở về cuối hàng đi.” Tôi nhìn về phía họ. Trong đám đó có một người đàn ông trông có vẻ cục súc sẵn sàng gây sự. Nhưng em gái tôi quay sang nói với anh ta vẻ cầu khẩn. “Trời ơi, em mệt quá rồi, em sẽ chết mất!”
Không dám từ chối, người đàn ông miễn cưỡng đứng dịch sang một chút. Tôi thò chân vào đó và đặt nồi niêu của chúng tôi xuống. Sau khi cựa quậy được đủ một chỗ để ngồi xuống tôi kéo em gái tôi ngồi vào trong lòng. Con bé dụi mặt vào vai tôi và khuỵu xuống như một mớ giẻ rách. Chắc mọi người tưởng chúng tôi là một cặp tình nhân đang cố an ủi nhau. Nhưng thực tế hai chúng tôi đang ở trong tình trạng vô cùng dễ kích động và có thể suy sụp bất cứ lúc nào. Chúng tôi căng thẳng tới mất trí. Nhưng chúng tôi chẳng còn sự lựa chọn nào khác ngoài chờ tàu.
Nhìn đám đông xung quanh, em gái tôi thì thào, “Tất cả mọi người ở đây hình như đều đã mua vé rồi. Chúng ta cũng phải tìm cách nào để có được vé thôi.”
Nhưng quầy bán vé đã đóng cửa. Tôi bóp vai em gái ra hiệu cho con bé im lặng. Nếu đứng chật cứng như thế này thì chả cần phải mua vé. Với lại tôi xác định không thể để mất chỗ này kể cả phải đổi mạng. Tôi sẽ phải lên bằng được chuyến tàu tới. Kể cả phải giẫm đạp lên đầu những người khác.
Chúng tôi đợi suốt sáu tiếng đồng hồ và trong suốt quãng thời gian đó đám đông không ngừng phình lên, ai cũng muốn tới thành phố tìm việc làm.
Cuối cùng chúng tôi nghe thấy mọi người hét lên, “Tàu đến rồi!” Đám đông nông dân trước cửa ga bắt đầu rùng rùng đứng dậy. Hãi hùng trước biển người lao tới, các nhân viên đành bỏ việc soát vé. Chỉ có một nhúm nhân viên bảo vệ ga làm nhiệm vụ nhưng nỗi lo bị bắn cũng không ngăn cản nổi bước chân chúng tôi. Tất cả đều dồn về sân ga. Vẻ sợ hãi hiển hiện trên gương mặt các nhân viên bảo vệ ga trước bức tường người khổng lồ. Họ biết là họ sẽ không thể chống trả được. Đoàn tàu màu nâu đã tiến gần tới sân ga và đám đông tiếp tục xông tới trước rồi khựng lại vì thất vọng. Các cửa sổ trên tàu đều mù mịt hơi sương nên không thể thấy gì ở bên trong nhưng chân tay và đồ đạc thò ra ở khắp mọi cửa. Đoàn tàu rõ ràng là đã quá tải.
“Nếu chúng ta không hành động,” tôi bảo Mei-kun, “thì chúng ta sẽ không bao giờ ra khỏi chỗ này. Dù xảy ra chuyện gì đi chăng nữa, đừng có rời tay anh ra. Hiểu không? Chúng ta sẽ lên tàu bằng được.”
Tôi túm lấy tay em gái và kéo đồ đạc đeo ra đằng trước. Chúng tôi cố hết sức xông lên phía trước. Không biết có phải là chiếc nồi của tôi đã đập vào lưng người đàn ông đi trước hay không mà anh ta quay lại nhìn tôi vẻ đau đớn rồi mất thăng bằng và ngã xuống. Dần dần bức tường người bắt đầu giãn ra. Rất nhiều người đã ngã xuống nhưng tôi vẫn xông về phía đoàn tàu, không khoan nhượng, đạp lên người khác mà đi.
Kinh hoàng trước cảnh giẫm đạp lên nhau, các nhân viên bảo vệ đã bỏ đi chỗ khác. Chẳng cần biết, chúng tôi tiếp tục liều lĩnh xô đẩy để tiến lên, giẫm đạp lên người khác, bị người khác giẫm lên. Như không có chuyện gì xảy ra. Tất cả mọi người đều chỉ có một ý nghĩ trong đầu: Lên được tàu! Tất cả đều phát rồ lên vì điều đó chẳng cần quan tâm tới người khác bị làm sao.
“Zhe-zhong! Zhe-zhong!”
Tôi nghe tiếng em gái tôi hét lên thảm thiết. Ai đó đã túm lấy tóc của con bé và kéo nó lại. Nếu ngã xuống, con bé sẽ bị giẫm đạp đến chết. Tôi vứt đống túi đang đeo và lao ra cứu con bé bằng cách đấm liên hồi vào mặt người phụ nữ đang túm tóc nó cho tới khi cô ta chịu buông tay. Máu bắt đầu phun ta từ mũi cô ta nhưng chẳng ai thèm để ý. Đúng là điên hết cả.
Tôi không phản đối nếu có ai chỉ trích hành động của tôi lúc đó. Tôi đang ở trong một tình thế mà không ai ở Nhật có thể hiểu nổi. Cảnh tượng đám đông hỗn chiến chỉ để giành một số chỗ trên chuyến tàu đã quá tải nghe có vẻ nực cười, nhưng đối với chúng tôi đó là vấn đề sống còn.
Em gái tôi và tôi đã xoay xở để dần dần tiến lại gần được đoàn tàu. Thế rồi tôi nhìn thấy một người ở toa gần nhất đang khua một cây gậy gỗ chắc nịch dọa đánh bất kỳ ai dám xông lên tàu. Hắn ta quật vào cạnh đầu người đàn ông đằng trước tôi khiến anh ta ngã lăn ra. Đúng lúc đó, tàu bắt đầu chuyển bánh. Cuống cuồng, tôi lao vào gã đàn ông cầm gậy và với sự trợ giúp của một người đàn ông khỏe mạnh khác ở bên cạnh, chúng tôi lôi tuột gã ta xuống. Rồi bằng cách giẫm lên những người đang ngã xuống như một chiếc cầu tôi cuối cùng cũng đưa được em gái và mình lên tàu. Rất nhiều người bắt chước, bò theo chúng tôi một cách tuyệt vọng. Nhưng tôi đã đứng vào chỗ của gã đàn ông lúc nãy với cây gậy của hắn ta và làm mọi thứ để có thể đẩy họ xuống. Giờ nghĩ lại cảnh tượng đó tôi thấy nổi hết gai ốc. Đúng là một cảnh tượng dưới địa ngục.
Cho tới khi tàu rời khỏi ga, em gái tôi và tôi vẫn chưa hết kích động. Mồ hôi túa ra trên mặt khi chúng tôi quay ra nhìn nhau. Tóc em gái tôi rối tung và mặt con bé bầm tím và lem luốc bùn đất. Chắc tôi trông cũng chẳng khá khẩm gì hơn. Chúng tôi không nói gì vì chẳng có từ ngữ nào có thể diễn tả được cảm giác của chúng tôi lúc đó, nhưng tôi biết chúng tôi đều có chung một ý nghĩ. Chúng mình đã thành công! Chúng mình thật là may mắn!
Một lúc sau chúng tôi bắt đầu bình tĩnh trở lại. Chúng tôi lại tiếp tục đứng chen chúc với những người không có chỗ ngồi phải đứng giữa hai hàng ghế như mình, đồ đạc lỉnh kỉnh khắp người. Chúng tôi không thể ngồi xuống cũng không thể cựa quậy. Sau nửa ngày, chúng tôi sẽ tới Trùng Khánh và hai ngày nữa mới tới được Quảng Châu. Chưa ai trong hai chúng tôi từng đi đâu ra khỏi làng, đây là lần đầu tiên chúng tôi đi xe buýt và đi tàu tới một nơi hoàn toàn xa lạ. Liệu chúng tôi có thể tiếp tục chịu đựng những thử thách tiếp theo? Tôi tự hỏi. Và cái gì đang đợi chúng tôi ở phía trước?
“Em khát quá!” Em gái tôi nhăn nhó tựa vào ngực tôi. Chúng tôi đã uống hết nước và dùng hết thức ăn ở trên xe buýt. Sợ mất chỗ ở ga nên chúng tôi chẳng dám đi kiếm cái gì ăn. Chúng tôi đành phải lên tàu mà không có lương thực. Tôi đưa tay gỡ mái tóc rối của em gái tôi, cố hết sức vuốt cho nó thẳng lại.
“Cố chịu đi em.”
“Em biết. Nhưng em chỉ băn khoăn nếu mình phải đứng thế này suốt cả chặng đường thì không biết phải làm sao.”
Em gái tôi nhìn ra xung quanh. Trong đám hành khách đứng ở giữa lối đi, có vài người đang uống nước hay ăn bánh dày nhân đậu bằng một tay, tay kia thì vẫn túm vào người khác mà không hề mất thăng bằng. Ngạc nhiên nhất là có một người phụ nữ còn vừa đứng vừa bồng con trên tay. Những người nông dân Trung Quốc thật là vững chãi.
Một nhóm bốn cô gái chắc chỉ khoảng mười sáu, mười bảy tuổi đứng túm tụm lại với nhau ở một góc cuối lối đi. Những cô gái này rõ ràng đã làm mọi cách để trông hợp mốt như buộc tóc bằng những sợi nơ màu hồng hay màu đỏ. Nhưng chỉ cần nhìn những đôi má sạm nắng và những bàn tay tấy đỏ vì cước là tôi có thể nhận thấy ngay họ là những cô gái nông thôn vốn quen làm việc đồng áng nặng nhọc. Em gái tôi xinh hơn họ nhiều, họ không thể nào sánh được với nó. Nghĩ vậy tôi cảm thấy vô cùng hãnh diện.
Mỗi khi tàu lắc, mấy cô gái xấu xí đó lại làm bộ ré lên và túm lấy những người đàn ông đứng xung quanh. Em gái tôi nhìn họ khinh bỉ. Một cô trong số họ lôi từ trong túi ra một chai Nescafé đã uống hết giờ được dùng để đựng nước trà và uống với một vẻ hết sức trịch thượng như muốn trêu ngươi em gái tôi. Với chúng tôi những thứ đồ nhập ngoại như cà phê tan là cực kỳ xa xỉ. Chúng tôi mới chỉ nhìn thấy những vỏ chai lọ rỗng ở các nhà giàu trong làng.
Em gái tôi nhìn chai nước trà đầy ghen tị. Thấy vậy, cô gái đó quyết tâm nâng mức độ tra tấn lên thêm một bậc bằng cách lôi từ trong túi ra một quả quýt và bắt đầu bóc vỏ. Chỉ là một quả quýt nhỏ nhưng mùi thơm ngọt ngào của nó bay khắp toa tàu. Ôi, cái hương vị đó! Chỉ nghĩ tới nó thôi cũng đủ khiến tôi trào nước mắt. Đó là thứ mùi vị dùng để phân biệt sự khác nhau giữa những người có và những người không có, một sự khác nhau quá lớn, có thể làm một người hóa điên và đảo lộn cuộc sống của anh ta. Tôi không nghĩ người Nhật các ngài có thể thực sự hiểu được cái cảm giác ấy. Các ngài đúng thật là may mắn.
Nhưng mùi thơm của trái quýt đột nhiên biến mất và thay vào đó là một thứ mùi kinh khủng. Cửa nhà vệ sinh vừa mở ra. Mọi người lập tức quay đi chỗ khác, đầu cúi gằm xuống. Đó là bởi vì một gã trông có vẻ xã hội đen vừa đi ra khỏi nhà vệ sinh. Phần lớn mọi người trên tàu đều mặc đồng phục kiểu Mao nhem nhuốc bẩn thỉu nhưng gã đàn ông này vận một chiếc áo vest màu ghi nhã nhặn, một chiếc áo len cổ lọ màu đỏ, quần rộng màu đen. Gã ta còn quàng một chiếc khăn trắng quanh cổ. Quần áo gã ta đều là thứ chất lượng. Nhưng mắt gã ta đảo như rang lạc, giống hệt Gen-de. Rõ ràng là một tay anh chị. Lúc cửa nhà vệ sinh mở ra, tôi có thể nhìn thấy hai người đàn ông khác ở trong, cả hai đều ăn mặc giống gã ta, đang hút thuốc.
“Mấy tên khốn đó tuyên bố chiếm lấy nhà vệ sinh và không ai được sử dụng.” Người đàn ông đứng cạnh tôi cay cú lẩm bẩm. Anh ta thấp hơn tôi một cái đầu.
“Thế chúng ta đi ở đâu?”
“Sàn tàu.”
Tôi choáng váng nhìn xuống chân và thấy sàn tàu ẩm ướt. Tôi nghĩ mình ngửi thấy mùi gì đó rất lạ khi mới lên tàu, giờ thì tôi biết đó là mùi nước tiểu của hành khách.
“Thế nếu muốn đi đại tiện thì sao?”
“Thì…” Anh ta mỉm cười để lộ chiếc răng cửa duy nhất còn lại. “Tôi có một chiếc túi nylon nên chắc tôi sẽ dùng nó vậy.”
Và khi chiếc túi đầy tôi dám chắc rằng anh ta sẽ vứt nó xuống sàn tàu. Và rồi chắc sẽ phóng uế thẳng xuống đó luôn.
“Sao không đi vào tay luôn ấy?” một thiếu niên mặt mụn đứng sau lưng tôi xen vào.
Mọi người xung quanh chúng tôi cười ồ lên nhưng có tới một nửa trong số họ trông khá thiểu não. Thật thảm hại. Nhà tôi dù có nghèo tới đâu đi nữa, dù phải sống trong hầm, chúng tôi cũng không bao giờ nghĩ tới chuyện làm nhơ bẩn sàn nhà bằng chính những thứ uế tạp của mình. Là người thì không xử sự như vậy.
“Tất cả các toa khác cũng vậy sao?”
“Đều thế cả. Điều đầu tiên người ta làm khi lên tàu là chiếm lấy cái buồng toa lét. Chỗ ngồi tính sau. Nhìn xem, tàu chật thế này thì kể cả toa lét trống không cũng chả làm sao mà lách ra đó được. Thế nên tốt nhất là chiếm luôn cái toa lét. Đúng là nó có bốc mùi thật. Nhưng nếu cầm theo một tấm ván đậy nó lại thì còn có thể ngồi xuống, dang tay, giạng chân thoải mái và ngủ ở đó nữa. Lại còn có thể khóa cửa không cho ai vào ngoài chiến hữu của mình.”
Tôi nghển cổ lên nhìn xung quanh toa tàu. Mọi người chen chúc nhau trên lối đi, giữa các hàng ghế, trẻ em và phụ nữ thì ngồi lên cả giá để đồ. Mỗi khoang ghế có bốn chỗ mặt đối mặt nhưng chỉ nhìn thấy toàn đỉnh đầu vì mọi người ngồi dồn vào nhau, chật tới mức không thể cử động được và dĩ nhiên là phải làm chuyện đó ngay tại chỗ trước mặt mọi người.
“Đối với đàn ông thì không tệ lắm, nhưng với phụ nữ thì quả là khó.”
“Thì họ có thể trả tiền cho bọn kia để được sử dụng toa lét.”
“Họ phải trả tiền ư?”
“Ừ, thì đấy chính là cách kiếm tiền của bọn chúng mà: lấy tiền đi vệ sinh.”
Tôi nhìn trộm tay anh chị. Hắn chắc chán ngồi trong nhà vệ sinh nên đi ra ngoài nhìn quanh quất. Hắn nhìn đám con gái vẻ tính toán rồi quay sang người phụ nữ đang bế con. Khi đám con gái ngượng ngùng quay đi chỗ khác thì hắn bắt đầu nhìn đến em gái tôi. Tôi cảnh giác cố che con bé cho hắn không nhìn thấy và bắt đầu lo lắng vì nhan sắc của con bé có thể gây rắc rối. Gã ta nhìn tôi. Tôi cụp mắt xuống.
Rồi hắn ta nói to, “Hai mươi tệ cho một lần đi vệ sinh. Có ai đi không?”
Hai mươi tệ là vào khoảng ba trăm yen Nhật. Một số tiền nhỏ, có lẽ thế. Nhưng vào thời điểm đó tôi chỉ kiếm được một tệ một ngày khi còn làm ở nhà máy.
“Như thế thì đắt quá,” cô gái vừa ăn quýt khẽ vặc lại.
“Thì thôi tôi nghĩ cô khỏi cần dùng.”
“Không dùng thì có mà chết.”
“Tùy cô thôi. Muốn chết thì cứ việc.”
Hắn ta nói rồi nhổ một bãi nước bọt và đóng sầm cửa nhà vệ sinh lại. Ba người đàn ông trong một buồng vệ sinh bé tẹo. Không hiểu họ làm gì trong đó? Tôi cũng chịu. Tôi chỉ biết là trong đó còn có nhiều chỗ hơn là đứng giữa lối đi thế này.
“Em chỉ muốn được làm trẻ con,” em gái tôi nói và nhìn đứa bé trong tay mẹ một cách ganh tị. “Có thể quấn tã, ăn sữa mẹ và chả phải lo nghĩ gì.” Mặt em gái tôi xanh mét, lấm lem bùn đất. Hai quầng mắt thâm lại. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Chúng tôi đứng hai ngày trên xe buýt chật cứng, xóc lên xóc xuống rồi chờ nhiều giờ để lên được tàu. Cả hai chúng tôi hoàn toàn kiệt sức. Tôi bảo em gái dựa vào tôi cố ngủ đi một lúc.
Tôi không biết bao nhiêu giờ đã trôi qua nhưng trên đỉnh đầu mọi người tôi thoáng thấy ánh mặt trời từ bên ngoài cửa sổ hắt vào. Mọi người trên tàu im lặng, dính vào nhau. Chúng tôi cùng lắc lư theo nhịp điệu của con tàu, tất cả hòa thành một. Em gái tôi thức dậy, ngước nhìn tôi và hỏi, “Anh nghĩ chúng ta còn cách Trùng Khánh bao xa nữa?”
Tôi không có đồng hồ nên chịu chẳng biết lúc đó là mấy giờ nữa. Người đàn ông không có răng cửa nghe thấy thế liền bảo, “Khoảng hơn hai tiếng nữa, chúng ta sẽ tới Trùng Khánh. Sẽ lại có thêm người muốn lên tàu. Lại có chuyện hay để xem.”
“Ở Trùng Khánh liệu chúng tôi có thể mua được nước và thức ăn không?” tôi hỏi.
Nghe vậy, người đàn ông sún răng lại phá lên cười bảo, “Cậu suy nghĩ mới viển vông làm sao? Thế cậu nghĩ rằng xuống tàu rồi cậu lại có thể chen lên được sao? Đó là lý do tại sao mà ai cũng mang thức ăn với nước uống theo.”
“Có ai ở đây muốn chia đồ ăn cho chúng tôi không?”
“Có tôi đây.” Tôi quay lại khi nghe ai đó trả lời. Một người đàn ông trong bộ đồng phục Mao chắp vá tơi tả giơ một cái chai trông nhem nhuốc đựng đầy nước về phía chúng tôi. “Mười tệ một ngụm.”
“Đắt quá.”
“Thế thì đừng uống. Đó là tất cả những gì tôi có. Không cho không được.”
“Hay để mỗi chúng tôi uống một ngụm cho mười tệ.” Em gái tôi lên tiếng. Tôi ngạc nhiên nhìn con bé. Trông nó rất kiên quyết.
“Mặc cả kinh quá. Thôi được.”
Khi ông ta chấp nhận vụ mặc cả thì một người phụ nữ trẻ ở cuối lối đi giơ một quả quýt lên và bảo, “Mười tệ cô có muốn mua không?”
Em gái tôi trả lời ngắn gọn, “Tôi sẽ bảo chị biết sau khi uống nước.” Sau khi uống một ngụm đầy, con bé đưa chai nước cho tôi và bảo, “Nếu khôn thì cố mà uống cho thật nhiều vào. Vì mình phải trả những mười tệ cơ mà.”
“Đúng vậy.”
Vẻ mặt của em gái tôi khiến tôi sửng sốt. Tôi cầm lấy chai nước và tu. Nước ấm và có mùi gỉ sắt. Nhưng đó là giọt nước đầu tiên từ hơn nửa ngày nay. Một khi bắt đầu uống là tôi không tài nào ngừng lại được. “Thôi đủ rồi đấy!” người đàn ông giận dữ hét lên nhưng tôi giả vẻ ngờ nghệch. “Tôi chỉ uống đúng một ngụm còn gì.” Mọi người xung quanh chúng tôi cười ầm lên.
“Giờ thì trả tiền ngay!” ông ta nói.
Tôi lôi tiền ra khỏi túi. Tất cả số tiền của chúng tôi được cuộn lại thành một cục và buộc bằng chun. Cả đám đông ồ lên khi nhìn thấy cục tiền. Tất nhiên là tôi không muốn trưng tiền của mình ra trước người lạ nhưng tôi không có cách nào để lấy mười tệ ra khỏi túi được.
Tay tôi run lẩy bẩy tới mức không đếm nổi tiền. Không chỉ vì mắt mọi người đều đổ dồn về tôi mà vì trước đây tôi chưa bao giờ tiêu cái gì tới mười tệ. Tôi nghe thấy em gái tôi nuốt nước bọt. Con bé hẳn cũng đang sốt ruột.
Thật vô lý khi phải trả bằng ấy tiền cho một ngụm nước. Sự ti tiện đó làm tôi sửng sốt. Nhưng tôi vẫn phải chi tiền. Sự thờ ơ của đám người xung quanh làm tôi choáng váng. Đúng là một kinh nghiệm quý báu. Chúng tôi trên đường lên thành phố, sẽ nghe và chứng kiến những chuyện mà trước đây chúng tôi không thể hình dung ra nổi. Đây đúng là một đoạn dạo đầu có ích. Tôi cũng vẫn còn nhớ tôi đã sửng sốt như thế nào khi tới Nhật Bản, nhìn cái cách người ta tiêu tiền như nước, chẳng nghĩ ngợi gì, khiến tôi nóng mắt, chỉ muốn nguyền rủa tất cả bọn họ.
Cuối cùng thì tôi cũng lấy ra được mười tờ mệnh giá một tệ và truyền tay mọi người đưa trả cho người bán nước. Ông ta lại còn tỏ ra cáu bẳn hơn. “Cứ làm như một thằng nhà quê trong khi có chừng ấy tiền, đồ khốn! Đáng lẽ mình nên nói thách hơn mới phải!”
Người phụ nữ trẻ định bán quýt cho chúng tôi lúc nãy lên tiếng chế nhạo ông ta. “Đừng có tham quá thế. Chỉ nên tự trách mình đã không biết điều tối thiểu trong luật mua bán. Trước khi chỉ trích người anh em nông dân của chúng ta có lẽ anh nên tự đập vào cái đầu rỗng của mình một phát cho nó sáng ra.”
Mọi người xung quanh cười ồ lên.
“Hai người này rõ là lắm đạn! Họ phải mang theo tới gần năm trăm tệ.” Người đàn ông sún răng nói oang oang cho cả toa nghe thấy. Tất cả mọi người bắt đầu xì xào bàn tán. Bốn cô gái kia cũng quay ra nhìn chúng tôi, mồm há hốc.
“Đừng có xía vào chuyện người khác,” tôi nói với anh ta. Nhưng anh ta cười phá lên như thể tôi là một tên ngốc.
“Cậu chả biết chó gì về đời đúng không?” Anh ta giễu. “Phải chia tiền thành từng món nhỏ và cất nó vào nhiều chỗ chứ. Không thì bị lấy trộm một lần là cậu mất sạch.”
Đúng thế. Đúng thế. Những người xung quanh gật gù tán đồng khiến ông sún thừa cơ tiếp tục hể hả.
“Cậu đúng là quê một cục. Cậu chưa bao giờ nghe nói đến cái gọi là ví đựng tiền à? Cá là cậu đến từ một làng nghèo rớt không lấy được vợ.”
“Gớm anh cũng từ đấy mà ra thì mới biết rõ thế. Mà anh đúng là bốc mùi. Anh có bao giờ nghe thấy cái gọi là tắm rửa không? Hay đái ra sàn là thói quen ở nhà anh. Này, tôi muốn nhờ anh một việc. Nhấc ngay cái tay dơ dáy của anh ra khỏi mông tôi,” em gái tôi la lên.
Nghe em gái tôi đối đáp, tất cả mọi người trong toa tàu phá lên cười. Ông sún mặt đỏ như gấc, cụp mắt xuống vẻ xấu hổ. Tôi siết chặt tay em gái và bảo. “Nói thế thật đáng đời ông ta, Mei-kun.”
“Anh không thể cứ để mặc cho họ làm vậy. Chả bao lâu nữa họ sẽ phải quỳ mọp dưới chân chúng ta, tất cả bọn họ. Chúng ta sẽ trở thành các minh tinh màn bạc được hâm mộ ở khắp mọi nơi và giàu sang tột bậc.”
Em gái tôi vừa nói vừa thúc khuỷu tay vào sườn tôi như để nhấn mạnh quyết tâm của mình. Đúng thế, tôi dần trở nên lệ thuộc vào em gái của mình với tính cách mạnh mẽ và đầu óc nhanh nhạy của nó. Thế nhưng kết cục tôi đã rơi vào một đất nước xa lạ mà không có nó. Tôi hy vọng các ngài có thể hiểu được đối với tôi mọi chuyện đã trở nên khó khăn tới nhường nào và tôi đã trở nên lạc lối như thế nào.
Một lúc sau đó, đoàn tàu tự dưng khựng lại, hành khách chúi hết về phía trước. Tôi có thể nhìn thấy những cột cáp điện thoại và ánh sáng từ những tòa nhà cao tầng. Đó là một đô thị. Tôi bắt đầu trở nên phấn khích. Chúng tôi đã tới Trùng Khánh. Trùng Khánh! Mọi người xung quanh tôi cũng bắt đầu la hét một cách huyên náo, khó chịu.
Ông sún răng im lặng nãy giờ sau khi bị em gái tôi làm cho bẽ mặt nói sau lưng tôi, “Hai người không có vé đúng không? Tôi biết là hai người đã đi lậu vé.” Ông ta ve vẩy chiếc vé màu hồng trước mặt tôi. “Nếu không có vé, họ sẽ lôi cậu xuống tàu và cho đi tù.”
Em gái tôi nhìn tôi lo lắng. Đúng lúc đó thì tàu bắt đầu đi vào sân ga. Trùng Khánh là một thành phố lớn nhưng là ga đầu tiên tiếp nhận các chuyến tàu từ miền Nam đến nên sân ga chật cứng người, tất cả đều là nông dân chờ để chuyển tiếp lên tàu của chúng tôi. Họ bắt đầu chen nhau để lên tàu. Tay anh chị trên toa chúng tôi cầm lấy một cây gậy to và tiến về phía tôi. Tôi tưởng hắn ta sẽ dùng nó để dọa không cho người khác lên tàu nhưng hắn lại đưa nó cho tôi và bảo, “Sao không giúp tôi một tay?”
Tôi buộc phải nghe theo. Tôi chuẩn bị sẵn sàng hành động nhưng khi cửa tàu mở ra thì không thấy ai trèo lên. Tôi bị bất ngờ không biết phải làm gì thì một nhân viên bảo vệ ga cầm súng xuất hiện trước mặt. Tôi nhanh chóng giấu cây gậy sang một bên.
Nhân viên bảo vệ này quát lên giọng lỗ mãng, “Kiểm soát vé. Hãy trình vé ra để kiểm tra. Ai không có vé thì xuống tàu.” Hành khách xung quanh tôi giơ những chiếc vé màu hồng lên quá đầu.
Em gái tôi và tôi cụp mắt xuống. Nhồi giữa đám đông, chật như nêm chỉ có hai chúng tôi là không có vé.
“Anh không có vé?” Tôi định giải thích với nhân viên soát vé là tôi không kịp mua vé thì tay anh chị giữ tôi lại và bảo.
“Anh ta sẽ trả tiền bằng bất cứ giá nào.”
Tay nhân viên soát vé lập tức quay sang thì thầm vào tai viên cán bộ nhà ga đứng cạnh anh ta. Sau một lúc trao đổi, anh ta quay lại nói cụt lủn. “Hai trăm tệ tới Quảng Châu.” Trong khi đó giá vé bình thường có hơn ba mươi tệ một người.
“Mặc cả đi!” Tôi nghe ai đó nói.
“Hai trăm cho hai người.”
“Xuống tàu ngay,” viên cán bộ nói. “Anh bị bắt vì đã đi lậu vé.”
Nhân viên soát vé chĩa súng vào tôi.
Tuyệt vọng, tôi cố mặc cả thêm. “Ba trăm tệ cho hai người.”
“Hai người là bốn trăm tệ.”
“Thế thì có giảm chút nào đâu. Ba trăm năm mươi tệ được không?”
Tay nhân viên lại quay lại trao đổi với viên cán bộ. Tôi sốt ruột chờ đợi. Một phút sau anh ta quay lại tôi với vẻ nghiêm trọng rồi gật đầu. Khi tôi rút tiền ra trả, viên cán bộ ấn hai chiếc vé màu hồng vào tay tôi rồi đóng cửa lại.
Em gái tôi và tôi phải chịu đói và khát trên đường tới Quảng Châu, từ chối những lời gạ gẫm mua lại thức ăn và nước uống của hành khách trên tàu. Tay tôi vẫn chưa hết run kể từ khi chịu đựng cái hình phạt phải rút tiền ra đếm trước mặt người khác. Nhưng so với số tiền ban đầu giờ chúng tôi chỉ còn lại rất ít. Sự tiếc nuối giày vò tôi. Giá như biết đường dự trữ thức ăn và đồ uống thì tôi sẽ không phải tiêu vào số tiền đính hôn quý báu của em gái mình. Tôi đúng là ngây thơ. Sao tôi không đoán ra rằng sẽ có rất nhiều người khác cũng muốn lên thành phố như chúng tôi? Đến được Quảng Châu thì chúng tôi chỉ còn chưa đến một trăm tệ.
Ở các làng quê nông nghiệp ở Trung Quốc có tới hơn hai trăm bảy mươi triệu người, nhiều hơn khả năng chu cấp của đất trồng. Sản phẩm nông nghiệp làm ra chỉ đủ nuôi hơn một trăm triệu người, nghĩa là chưa được một nửa dân số. Trong số hơn một trăm bảy mươi triệu còn lại, có khoảng chín mươi triệu người làm việc tại các nhà máy ở địa phương trong khi trong khi tám muơi triệu kia không có cách nào khác là phải lên các thành phố lớn tìm việc làm. Vào thời điểm đó dòng người lao động thặng dư ở Trung Quốc được gọi là “Dòng lao động mù”. Hiện nay được đổi thành “Lực lượng lao động dự trữ”. Nhưng tôi thấy cái tên cũ diễn tả chính xác hơn thực tế hình ảnh đoàn người dò dẫm trong bóng tối, tìm mọi cách để tới được nơi có ánh sáng đô thị lấp lánh mỹ kim.
Tất cả những điều đó tôi học được ở trên tàu từ cậu thiếu niên mặt mụn đứng sau lưng. Tên của cậu ta là Dong Zhen(1). Cậu ta cao, gầy, vai nhô ra như cái mắc áo. Mặt cậu ta đầy mụn bọc đang giai đoạn mưng mủ. “Zhe-zhong này,” cậu ta hỏi tôi, “anh có thể đoán nổi sau Tết có bao nhiêu người từ Tứ Xuyên lên Quảng Châu không?”
1. Đồng Trinh
Tôi lắc đầu. Tôi xuất thân từ một làng bốn trăm khẩu. Nên tôi không thể tưởng tượng ra một đám đông lớn hơn thì thế nào. Nếu có bảo là cả Tứ Xuyên thì tôi cũng không ấn tượng gì vì tôi còn chưa bao giờ nhìn thấy một tấm bản đồ.
“Tôi không biết.”
“Khoảng chín trăm nghìn người.”
“Ôi, thế thì tất cả bọn họ đi đâu?”
“Giống anh thôi. Tới Quảng Châu và Chu Giang ở đồng bằng châu thổ sông Ngọc.”
Tôi không tin nổi là có thể kiếm ra việc làm nếu có tới chín trăm nghìn người đổ xô vào một thành phố. Tuy đã đi tàu và đi xe đò nhưng tôi vẫn chưa hình dung ra một thành phố như thế nào.
“Có chỗ nào giúp chúng ta kiếm việc làm không?”