Chương 27
Phần 1
Dong Zhen cười phá lên. “Anh đúng là ngốc thật. Không có ai giúp anh đâu. Anh phải tự mà đi tìm việc.”
Nghe vậy tôi bắt đầu thấy lo. Từ trước tới giờ tôi chỉ biết chăn dê và làm mũ cói. Tôi có thể kiếm được việc gì bây giờ? Tôi nhớ ra Jian Ping đã từng làm xây dựng nên hỏi Dong Zhen.
“Thế còn việc làm ở các công trình xây dựng thì sao?”
Dong Zhen uống một ngụm nước trong bi đông của cậu ta trước khi trả lời. Tôi nhìn cái bi đông của cậu ta với vẻ thèm thuồng.
“Anh muốn uống một ngụm không?” cậu ta hỏi và đưa chiếc bi đông nước của mình cho tôi uống. Nước hơi tanh và nặng mùi nhưng tôi rất cảm kích vì không phải trả tiền. Trong cả toa tàu có mình Dong Zhen là lên thành phố để học đại học. Tôi cứ tưởng một người thuộc tầng lớp trí thức như cậu ta hẳn sẽ khinh thường đám nông dân nhưng Dong Zhen lại rất tử tế.
“Tôi chắc là ở thành phố có một chỗ người ta hay tới tìm lao động công nhật. Anh nên tới đó và chờ. Nghe nói nếu anh mang theo cuốc, xẻng và dụng cụ thì sẽ dễ được thuê ngay.”
“Thế còn em gái của tôi? Con bé có thể tìm được việc gì?”
“Phụ nữ có thể làm những công việc như trông trẻ,giúp việc, y tá, giặt giũ và giúp việc tang lễ ở các nhà xác. Hoặc làm hướng dẫn ở các nhà hỏa táng, phục vụ trà v.v… tóm lại toàn những việc thu nhập thấp.”
“Sao cậu rành rẽ cứ như chuyên gia vậy?”
“Chỉ là hiểu biết thông thường thôi mà. Nhưng tôi đoán là với anh tôi có vẻ sành sỏi chỉ vì anh thực sự chả biết gì cả. Rồi anh sẽ vỡ ra thôi. Những người lên thành phố tìm việc thường hay tán chuyện, tin tức truyền miệng. Anh sẽ được nghe tất cả mọi chuyện trước khi nhìn thấy.”
Dong Zhen nghiêng người về phía tôi thì thầm. “Em gái anh không có vẻ là loại người sẽ nhận những công việc rẻ mạt mà tôi vừa nói.”
Mei-kun đã bỏ đi vào nhà vệ sinh và tôi đột nhiên giật mình khi nhận ra con bé vẫn chưa trở lại. Tôi nhìn quanh và thấy con bé đang đứng bên cạnh nhà vệ sinh lúc này đang mở toang cửa nói chuyện một cách thân mật với nhóm xã hội đen. Có gì mà buồn cười đến vậy? Tất cả bọn họ đột nhiên cười phá lên. Một cách đồng loạt, hành khách trong toa hết thảy quay ra nhìn bốn người bọn họ. Tôi không rời mắt khỏi em gái tôi lúc này đang ngước lên nhìn tay anh chị lúc nãy. Con bé rõ ràng là đang tán tỉnh hắn. Điều đó khiến tôi cảm thấy buồn nôn. Dong Zhen thúc vào sườn tôi.
“Trông như em gái anh đang kết bạn với bọn xã hội đen.”
“Không. Không phải thế đâu. Nó chỉ không muốn trả tiền đi vệ sinh nên đang tìm cách phỉnh phờ hắn thôi mà.”
“Cô ấy có vẻ rất thành thạo trong cuộc chơi. Nhìn xem, cô ấy còn đánh hắn nữa kìa.”
Em gái tôi đang đập đâp vào tay gã anh chị và cười. Về phần mình, gã ta giả bộ như bị đau và cố né sự đụng chạm của em gái tôi với vẻ cường điệu.
“Bỏ đi.”
Dong Zhen nhận thấy tôi đang giận dữ liền trêu. “Ôi giời ơi, hai người cư xử cứ như tình nhân chứ không phải là anh em.”
Cậu ta đã đánh trúng vào điểm nhạy cảm của tôi. Mặt tôi đỏ bừng lên vì ngượng. Mặc dù rất hổ thẹn khi phải thú nhận chuyện này, tôi thực sự rất thích em gái mình. Khi còn làm việc ở nhà máy sản xuất mũ cói, ngoài nam giới ra còn có thêm mười nữ nhân công. Tất cả đều ở độ tuổi vị thành niên. Họ thường gọi tên và lẽo đẽo bám theo tôi nhưng tôi chẳng mảy may chú ý. Không ai trong số họ có thể xách dép cho Mei-kun.
“Nhìn kiểu này, em gái anh chắc sẽ xuống tàu với tay anh chị đó thôi!”
“Mei-kun sẽ không đời nào làm một chuyện ngu ngốc như thế.”
Tôi không bao giờ nghĩ rằng những lời Dong Zhen nói có thể trở thành sự thật nhưng khi tàu bắt đầu vào ga Quảng Châu, em gái tôi nhảy xuống sân ga và phấn khởi bảo tôi, “Zhe-zhong, anh không ngại nếu mình chia tay nhau ở đây chứ?”
Tôi không tin vào tai mình và hỏi đi hỏi lại con bé. “Em chắc chứ?”
“Vâng, em tìm được việc rồi,” con bé nói, vẻ vô cùng hãnh diện.
“Là việc gì?”
“Làm việc tại một khách sạn hạng nhất.”
Kiệt sức sau hai ngày đường không có gì ăn, tôi khuỵu xuống sân ga.
“Mấy anh bạn kia bảo họ sẽ giúp em tìm việc nên em sẽ đi với họ.” Em gái tôi chỉ về phía tay anh chị và hai chiến hữu của hắn. Tôi đi về phía họ. Chỉ tay vào người đàn ông đã đưa cho tôi cây gậy ở Trùng Khánh, tôi giận dữ nói, “Các người định giở trò gì với em gái tôi?”
“Anh hẳn là Zhe-zhong. Tên tôi là Jin-long(1). Em gái anh nói là cô ấy đang muốn tìm việc nên tôi sẽ giới thiệu cô ấy với một người quen. Cô ấy có thể làm việc tại khách sạn Thiên Nga Trắng. Ai cũng muốn xin được việc ở đó. Hôm nay đúng là ngày may mắn của anh đấy.” Jin-long vừa nói vừa chỉnh lại chiếc khăn quàng cổ màu trắng.
1. Kim Long
“Khách sạn Thiên Nga Trắng đó nằm ở đâu?”
“Đó là khách sạn hạng nhất được xây dựng ở khu tô giới cũ trên đảo Shamian.”
“Shamian?”
Jin-long quay sang em gái tôi rồi nhìn tôi phá lên cười khùng khục. “Người ơi, đúng là nhà quê!” Mei-kun cũng cười góp với anh ta. Và tôi chợt nhận ra con bé đang giận tôi vì việc cố trèo lên tàu mà không biết mình đang làm gì, vì đã lãng phí mất bốn trăm tệ.
Tôi giận dữ túm lấy vai con bé. “Em không biết em đang dính vào rắc rối thế nào đâu đúng không? Hắn là một tay anh chị. Không hiểu sao? Khách sạn hạng nhất chỉ là một trò lừa đảo. Chỉ là cái bẫy đề lừa em đi làm gái điếm mà thôi.”
Em gái tôi có vẻ dao động trước những gì tôi vừa nói. Nhưng Jin-long chỉ gãi gãi sống mũi và trả lời, vẻ bực bội, “Tôi không lừa dối gì cả. Tôi có quen đầu bếp khách sạn nên cũng có chút ảnh hưởng. Nếu anh nghi ngờ thì cứ tới thẳng khách sạn mà xem.”
Nghe thế, em gái tôi liền chìa tay ra trước mặt tôi.
“Đưa cho em một nửa số tiền còn lại.”
Tôi chẳng còn cách nào khác là làm như con bé yêu cầu. Tôi đếm ra năm mươi tệ và đưa cho con bé. Ngay khi nhét tiền vào túi, nó nhìn tôi vẻ hài lòng. “Lúc nào rẽ qua thăm em nhé Zhe-zhong.”
Tôi nhìn em gái mình băng qua sân ga cùng Jin-long và đám tay chân của hắn ta, cái túi đựng tất cả đồ đạc giá trị nhất của con bé lủng lẳng trên tay. Và rồi con bé biến mất sau cánh cổng. Đáng ra phải bảo vệ em gái mình nhưng tôi lại chính là người phụ thuộc vào con bé. Đột nhiên tôi cảm thấy như ai đó vừa tước đi của tôi một cánh tay. Từng đoàn lữ khách bơ phờ lũ lượt đi qua trước mặt tôi, đua nhau đi về phía cổng ga.
“Choáng thật. Em gái anh đúng là một người không thích phải chờ đợi.”
Đó là Dong-Zhen.
“Tôi đã làm hỏng mọi chuyện.”
Nghe câu trả lời yếu ớt của tôi, Dong Zhen nhìn tôi vẻ thông cảm. “Đời là thế. Tôi cũng một thân một mình ngay từ đầu. Tốt nhất anh hãy nên đi tìm mua lấy một cái xẻng.” Dong Zhen khuyên tôi rồi lẫn vào đám đông, hai vai xương xẩu lao về phía trước. Khi bình tĩnh trở lại, tôi mới nhận ra rằng cả người tôi ướt đẫm mồ hôi. Mới là đầu tháng Hai nhưng Quảng Châu gần phía Nam hơn Tứ Xuyên nên thời tiết cũng nóng hơn.
Tôi quay lưng đi khỏi nhà ga. Những người đàn ông đàn bà đi ngang qua trông hết thảy đều sành điệu, tự tin và kiêu ngạo. Những tòa nhà cao, sừng sững như những tòa lâu đài đổ bóng trên đầu tôi. Ánh nắng đập vào những ô cửa kính phản chiếu trong mắt tôi. Tôi không biết làm thế nào để sang đường giữa một rừng xe cộ. Một người phụ nữ lớn tuổi nhìn tôi vẻ khinh miệt rồi chỉ tay ra phần đường dành cho người đi bộ. Người qua lại đông đúc trên cây cầu đường bộ vắt ngang phố. Tôi cũng trèo lên cầu thang để sang đường nhưng tôi quá mệt và đói tới mức hai đầu gối cứ va vào nhau lập cập. Thú thật là tôi bắt đầu cảm thấy giận em gái mình ghê gớm. Con bé đã phản bội tôi.
Đúng lúc đó, một cảnh sát xuất hiện trước mặt, chắn đường tôi. Nhớ lại sự việc ở ga Trùng Khánh, tôi rút luôn năm tệ đưa cho anh ta và hỏi đường tới chợ lao động. Anh ta đút tiền vào túi không thèm chớp mắt và bảo tôi cái gì đó. Nhưng tôi không hiểu gì cả vì anh ta nói tiếng Quảng Đông. Không hiểu sao mà tôi lại quên bẵng mất ở đây người ta không nói tiếng Quan Thoại dù vẫn là Trung Quốc. Lao động công nhật! Lao động công nhật! Tôi hét lên nhiều lần và cuối cùng trong lúc tuyệt vọng đành diễn tả bằng hành động giả vờ đào đất. Viên cảnh sát chỉ cho tôi về phía quảng trường phía trước ga.
Giờ thì tôi mới vỡ lẽ. Ga tàu chính là chợ lao động ngoại tỉnh. Nhiều người đứng chờ việc như thế thì chỉ có phép màu mới có thể giúp được tôi. Và trong lúc chờ đợi tôi hẳn sẽ tiêu nốt số tiền còn lại và buộc phải đi ăn xin. Tôi là loại người luôn tìm cách tiến lên phía trước chứ không thể khoanh tay ngồi yên một chỗ chờ đợi.
Những người nông dân cùng cảnh ngộ lên thành phố tìm việc không có sự lựa chọn nào khác là phải sống vật vờ trên đường phố và tôi cũng không khác gì họ. Cuộc sống ở đây hóa ra cũng giống như ở làng quê lúc ngồi mong mưa tới. Chúng tôi phải phó thác số phận vào sự bất thường của thiên nhiên và hoàn toàn dựa vào trời đất để sinh tồn. Tôi xác định phải làm khác họ. Tôi sẽ tự đi tìm việc. Tôi nói vậy để tự động viên mình. Tôi không muốn có kết cục giống như mọi người trong đám đông trước ga kia. Tôi phải tránh xa họ ra. Tôi quả quyết bước xuống đường giữa những làn ô tô và xe máy.
Cuối cùng tôi cũng tới được một nơi không có quá nhiều xe cộ qua lại. Đó là một đại lộ với những hàng cây mã đề trải dài hút tầm mắt. Hai bên đường là những ngôi nhà cổ đã tróc vôi. Nhà nào cũng có cổng hẹp và cửa sổ tầng hai bằng gỗ, xây dựng theo phong cách kiến trúc sáng sủa và thoáng đãng của miền Nam Trung Quốc mà tôi chưa bao giờ được chiêm ngưỡng ở làng mình. Khi đi dọc theo đại lộ này, tôi có thể hình dung ra cảm xúc của người bản xứ. Mùa đông thì ấm áp, khắp nơi một màu xanh trù phú, thật là trong lành.
Tôi luôn ghen tức tới mất sáng suốt với những người sống sung túc ở những thành phố cảng. Càng đi tôi càng thấy nhẹ nhõm và tỉnh táo. Dần dần tôi lấy lại can đảm. Tôi vẫn còn trẻ. Không xấu xí và cũng không đần độn. Tôi có thể dễ dàng hình dung ra sự thành đạt của tôi ở thành phố này và tôi sẽ sống trong một ngôi nhà như thế kia. Tôi có thể làm bất cứ chuyện gì nếu ai đó cho tôi một cơ hội.
Tôi tới một phố rất sầm uất với những cô gái tóc dài vừa đi vừa ăn kem và những người đàn ông mặc quần jean bó sát. Tôi dừng lại trước một cửa hiệu bày đầy dây chuyền vàng lấp lánh. Rồi tôi nhìn thấy một nhà hàng có bể cá đầy ắp cá tôm cỡ bự. Những người ngồi ăn trong nhà hàng đang vui vẻ dùng bữa tối với những món thịt cá rán giòn. Trông mới ngon làm sao!
Mặt trời đã lặn, năng lượng hừng hực của đô thị làm tôi kiệt sức. Tôi ngồi xuống bên vệ đường, đói và khát nhưng không muốn tiêu tiền một cách ngớ ngẩn. Tôi chỉ còn tất cả chưa đầy năm mươi tệ, lại vừa phải chi ra năm tệ cho viên cảnh sát. Một đứa trẻ đi xe đạp ngang qua và ném một chai nước ngọt xuống vệ đường. Tôi vội vàng nhặt nó lên và uống nốt chỗ nước còn sót lại trong chai. Đó là một chai Coca-Cola. Tuy chỉ còn lại rất ít Coca-Cola ở đáy chai nhưng tôi không bao giờ quên được cái cảm giác ngon lành tới tê lưỡi giống như thuốc tiên đó. Rồi tôi hứng nước máy vào chai và uống cho tới khi không còn lại chút vị ngọt nào mới thôi.
Tôi phải kiếm ra tiền. Tôi muốn uống thứ nước ngọt đó mỗi ngày cho tới khi chán thì thôi. Tôi sẽ tới ăn ở cái nhà hàng mà tôi đi qua lúc nãy. Tôi sẽ ăn những thức ngon ở đó và sống trong một trong những ngôi nhà cổ đẹp đẽ kia. Tôi lại tiếp tục hành trình, trong lòng đầy quyết tâm.
Cuối cùng tôi cũng tìm thấy một công trường xây dựng. Tôi không biết liệu đã quá giờ tan ca hay chưa. Một tốp đàn ông quần áo bẩn thỉu, nhếch nhác có thể nhận ra ngay là lao động ngoại tỉnh đang ngồi túm tụm lại với nhau trò chuyện, cười đùa vui vẻ. Tôi hỏi thăm xem có thể tìm được việc ở đâu thì một người trong bọn họ bảo, “Hãy quay trở lại đại lộ Trung Sơn rồi đi về phía đông. Anh sẽ tới Chu Giang, ở đó có một con sông lớn. Ngay bên bờ sông có một chợ lao động.”
Tôi cảm ơn anh ta. Khi anh ta quay lại với đám bạn tôi chộp lấy một cái xẻng và bỏ chạy.
Tôi nhanh chóng tìm thấy chợ lao động. Có một bức tường chắn lớn bằng bê tông chạy dọc theo đường và phía bên kia là dòng nước màu nâu của sông Ngọc. Đã có gần ba mươi người đàn ông đứng chờ sẵn ở đó. Bên cạnh họ là những lều lán dựng tạm bằng gỗ vụn, phế liệu, bao tải xi măng. Bên cạnh đường còn có cả một quán nhỏ bán đồ ăn. Không có gì làm, họ túm lại với nhau nói chuyện ầm ĩ, có người thì ngồi xổm dưới đất vẻ mệt mỏi. Tôi hỏi một thanh niên, “Đây có phải là chợ lao động không?”
“Ừ.” Anh ta trả lời nhát gừng, mắt nhìn chiếc xẻng của tôi vẻ ghen tị. Tôi giữ chặt lấy chiếc xẻng, sẵn sàng chống trả nếu anh ta định cướp nó. Muốn chắc là mình đã tìm đúng chỗ, tôi hỏi thêm.
“Tôi có thể xếp hàng ở đây được không?”
“Anh phải đến sớm thì mới có cơ hội. Nhưng nếu anh muốn xếp hàng cũng không sao. Đằng nào đến lượt chúng ta thì cũng chả còn việc gì nữa.”
Hóa ra là thế. Anh chàng này hôm nay xếp ở cuối hàng nên không có việc làm nhưng ngày mai anh ta sẽ ở trên đầu. Nếu ngày hôm nay không đến lượt thì hôm sau sẽ được chọn. Nhưng cũng có nghĩa là hôm nay có việc thì ngày mai sẽ bị lỡ. Có vẻ như cách duy nhất để có được việc làm liên tục là phải xếp hàng lấy chỗ.
“Ngày mai họ sẽ bắt đầu từ mấy giờ?”
“Không có giờ giấc cụ thể. Họ gửi một cái xe tải tới, lấy nhân công rồi khởi hành. Nếu không lên được xe thì không có việc. Không thể lơ là được.”
Tôi xếp hàng ngay sau anh ta. Có lẽ sự mệt mỏi của chuyến đi giờ mới thấm thía nên tôi lăn ra ngủ ngay tại chỗ, tay ôm lấy xẻng.
Tôi giật mình tỉnh giấc vì lạnh và tiếng người nói xôn xao. Bình minh đã lên, bầu trời màu xanh trải dài trước mắt tôi. Tôi ngạc nhiên nhận ra rằng mình đã ngủ thâu đêm trên nền đất lạnh và cứng. Tôi loạng choạng đứng dậy và thấy hàng trăm người khác đang xôn xao bên cạnh như thể việc tuyển chọn sắp bắt đầu. Tôi dụi mắt uống một ngụm nước và thấy một chiếc xe tải lao tới.
“Thợ mộc và cu li xây dựng cầu!” người đàn ông đứng giữa thùng xe kêu to. “Năm mươi người.”
Ngay khi nghe thấy vậy, mọi người bắt đầu giơ tay lên và chạy về phía anh ta chỉ. Dùng một cái que dài để giữ trật tự, anh ta nói tiếp, “Chỉ những người có cuốc và xẻng thôi.”
Tôi chạy lên trước đàm đông. Anh ta nhìn tôi và chiếc xẻng rồi gật đầu. Anh ta hất hàm ra hiệu cho tôi trèo lên xe. Ngay lập tức đám đàn ông xung quanh bắt đầu trèo vào thùng xe, xô đẩy nhau để tìm được một chỗ cho mình. Người đàn ông kia chẳng thể làm gì được họ. Rất nhiều người bị ngã hay bị đẩy lăn lê trên mặt đất. Giống y như trên tàu. Khi thùng xe đã nhồi chặt người không thể nhét thêm được nữa, chiếc xe bắt đầu lăn bánh. Lại thêm một số người ngã xuống khi chiếc xe đổi hướng, vọt lên nhưng chẳng ai thèm quan tâm. Tôi ôm chặt chiếc xẻng trước ngực cẩn thận để không ai có thể lấy nó được. Hai má tôi nhức buốt vì gió lạnh buổi sớm thổi từ ngoài sông.
Tôi làm phụ hồ xây dựng được ba tháng. Công việc đơn giản nhưng nặng nhọc. Tôi làm việc từ bảy giờ sáng tới năm giờ chiều. Tôi trộn bê tông hay bê rầm sắt. Tôi làm việc cật lực và kiếm được mười bảy tệ mỗi ngày. Nhưng với tôi thế vẫn chưa đủ nên buổi tối ngay sau khi xong việc tôi đi vào thành phố nhận thêm các việc phụ như lau dọn hay đổ rác. Tôi rất hài lòng vì đã kiếm được gấp mười bảy lần so với công việc nhà máy ở dưới quê. Thành phố mang lại cho tôi rất nhiều cơ hội, thật không có gì để so sánh với thời gian trước đây ở nông thôn, tôi cứ như mở cờ trong bụng.
Để tiết kiệm tiền, tôi nhặt phế liệu và nylon ở chợ lao động và dựng lên một túp lều nhỏ. Tôi ở đó cả đêm để khi xe tải tới vào buổi sáng là tôi có thể chạy ra xếp hàng ngay lập tức. Những người sống quanh đó cũng rất tử tế. Nếu nấu cháo lòng thì thế nào họ cũng cho tôi một bát. Họ cũng gọi tôi tới khi có chai rượu rẻ tiền uống chung. Nhưng chỉ với những người cùng quê Tứ Xuyên mà thôi. Vì chúng tôi chỉ tin tưởng những người đồng hương, nói cùng một thứ ngôn ngữ.
Khi đã dành đủ một nghìn tệ, tôi quyết định bỏ việc phụ hồ. Tôi đã chán sống cảnh lều trại. Với lại mỗi lần vào thành phố giải trí, nhìn những người đàn ông bằng tuổi khác giao du với các cô gái, tôi lại thấy họ sướng hơn mình. Tôi muốn tìm một công việc trong thành phố, một công việc gì đó dễ dàng và thú vị hơn. Thế nhưng những công việc dành cho một người làm công nhật chỉ giới hạn ở ba từ: nguy hiểm, nặng nhọc và bẩn thỉu. Đó cũng chính là bản chất công việc ở các thành phố. Ở khía cạnh này, Trung Quốc cũng không khác Nhật Bản là mấy. Để được tư vấn về việc làm, tôi quyết định đi tìm em gái. Tôi vẫn chưa liên lạc với con bé vì còn giận việc nó bỏ rơi tôi.
Tôi tới đại lộ Trung Sơn mua một chiếc áo thun và quần jean mới. Tôi không muốn làm mất mặt con bé với bộ dạng nhếch nhác. Vì làm việc ở các công trường xây dựng nên tôi trở nên cường tráng hơn, da thì rám nắng. Trông tôi nam tính và thành thị thế này, em gái tôi hẳn sẽ rất ấn tượng. Tôi nóng lòng muốn đối đầu với Jin-long vì vẫn còn giận hắn ta đã cướp mất em gái. Tôi không phút nào quên được cái vẻ mạnh mẽ và tự chủ của hắn.
Đó là một ngày nắng nóng đầu tháng Sáu. Tôi mang theo một chiếc túi đựng chiếc áo thun màu hồng làm quà cho em gái tôi và đi xuống đại lộ Cát Vàng dọc theo sông Ngọc tới trước khách sạn Thiên Nga Trắng. Khách sạn nằm trên đảo Shamian bên bờ sông Ngọc. Đó là một khách sạn đồ sộ, ít nhất cũng phải đến ba mươi tầng. Tôi thấy nóng người vì hãnh diện khi nghĩ rằng em gái Mei-kun đang làm việc ở một nơi sang trọng như thế này. Nhưng tôi cảm thấy không thoải mái khi phải đối mặt với các du khách nước ngoài đi ra đi vào khách sạn, tôi lúng túng không biết làm thế nào để bước chân vào bên trong cánh cửa hoành tráng kia. Bốn người gác cổng lực lưỡng mặc đồng phục màu nâm sẫm đứng dọc theo lối đi bên ngoài khách sạn. Họ nhìn tôi vẻ nghi ngại. Những người này nhanh nhẹn đón khách xuống taxi và đưa họ vào bên trong. Khi khách đi bộ về khách sạn, họ chào đón khách bằng một thứ tiếng Anh lưu loát. Những người này chắc sẽ chẳng thèm trả lời tôi nên tôi lại gần một người đàn ông đang chăm sóc vườn hoa ở bên cạnh cửa ra vào. Nhìn dáng vẻ và thái độ của anh ta, tôi có thể đoán ra đó là một người ngoại tỉnh.
“Zhang Mei-kun làm việc ở đây, anh có thể cho tôi biết tôi có thể tìm cô ấy ở đâu không ạ?”
“Để tôi hỏi cho anh nhé?” anh ta trả lời, giọng vùng Đông Bắc, Bắc Kinh. Rồi anh ta đặt cái cào đất xuống và bỏ đi. Tôi đợi, đợi mãi vẫn chưa thấy anh ta quay lại. Tôi nhìn những tia nắng lấp lánh trên sông Ngọc trong lòng thấp thỏm lo lắng. Cuối cùng ai đó vỗ lên vai tôi. Người làm vườn đã quay trở lại. Anh ta nói với tôi vẻ thông cảm. “Có vẻ như không có ai tên là Zhang Mei-kun làm việc ở đây. Tôi đã hỏi một người phụ trách nhân sự tìm trong danh sách nhưng không thấy tên của cô ấy ở đâu cả. Tôi rất lấy làm tiếc.”
Tôi sững sờ. Nhưng thật tình tôi đã nghi ngờ chuyện này từ trước. Làm gì có ai may mắn đến thế. Giờ đây tôi càng chắc về việc em gái mình đã bị tên Jin-long đó lừa gạt, nhưng tôi có thể làm gì cơ chứ? Nhận ra rằng tôi sẽ chẳng bao giờ có thể gặp lại Mei-kun được nữa, nước mắt tôi bắt đầu tuôn rơi.
“Thế có ai tên là Jin-long không ạ? Một người cao lớn trông giống như một tay anh chị. Anh ta nói anh ta có người quen làm việc trong bếp của khách sạn.”
“Họ của anh ta là gì? Anh có biết anh ta làm trong nhà hàng nào của khách sạn không?”
Tôi nào biết gì, đành chỉ lắc đầu.
“Các đầu bếp ở đây đều được trả lương rất cao. Tôi không chắc là họ có liên quan gì tới bọn xã hội đen.”
Người đàn ông nhún vai như muốn chế nhạo sự thiếu hiểu biết của tôi rồi quay trở lại làm việc. Tôi chán nản đi dọc theo con đường bao quanh khách sạn rồi bỏ về hướng Shamian, một hòn đảo tự nhiên nằm ở ngã ba sông Ngọc. Nghe nói trước cách mạng đó là một khu tô giới chỉ dành cho người nước ngoài, không có một người Trung Quốc nào được đặt chân tới đây. Nhưng giờ nó đã trở thành một nơi công cộng và ai cũng có thể tới chơi.
Đây là lần đầu tiên tôi tới Shamian. Một đại lộ rộng trải dài dọc theo những tòa nhà kiểu châu Âu hàng nối hàng. Ở giữa đại lộ là một khoảnh phân cách xanh với những đóa hoa xô và râm bụt màu đỏ tươi. Những ngôi nhà ở trên phố này còn đẹp hơn những ngôi nhà nhỏ mà tôi mê mẩn ở Quảng Châu và muốn được sở hữu một ngày nào đó. Tôi ngồi xuống một cái ghế băng và ngắm nhìn đại lộ. Dường như mỗi ngày tôi lại phát hiện ra những điều tốt đẹp hơn ngày hôm qua. Tôi lại nghĩ tới Mei-kun. Sao tôi không giữ con bé lại mà để cho nó bỏ đi như thế?
“Này cậu kia!” Giọng một người đàn ông vang lên, cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi. Tôi quay lại và thấy một người đàn ông trông rất giống công an. Anh ta gọi tôi với một giọng rất trịch thượng. Tim tôi như ngừng đập. Tôi không có thẻ thường trú hay bất cứ giấy tờ tùy thân nào. Người đàn ông kia mặc một bộ vest màu xanh giống như các quan chức chính phủ thường vận. Anh ta có dáng vẻ nhẹ nhàng nhưng bước đi rất quả quyết và tự tin. Anh ta hẳn có một vị trí quan trọng. Vì không thể để bị bắt nên tôi cố xử sự như một tên nhà quê không biết gì.
“Tôi chẳng làm gì sai cả.”
“Tôi biết. Chỉ cần đi với tôi một lát.”
Anh ta túm lấy tay tôi và dẫn tới một chiếc xe hơi màu đen đỗ bên cạnh một tòa nhà kiểu châu Âu.
“Vào xe.”
Tôi không bỏ chạy được vì anh ta giữ chặt lấy tay tôi và đẩy tôi vào trong xe. Đó là một chiếc Mercedes lớn. Người tài xế nhìn tôi qua kính và mỉm cười. Tôi bị đẩy vào hàng ghế sau. Người đàn ông kia ngồi vào ghế trước rồi quay lại nhìn tôi bảo, “Tôi có việc làm cho anh. Nhưng anh phải đồng ý không được nói với ai. Đó là điều kiện làm việc. Nếu anh không đồng ý với điều kiện đó thì tôi sẽ để anh đi ngay lập tức.”
“Là công việc gì?”
“Anh sẽ biết khi chúng ta tới nơi. Nếu anh không muốn thì ra khỏi xe ngay.”
Tôi vừa sợ vừa thấy tò mò. Nếu đây chính là sự đột phá mà tôi đang mong đợi thì sao? Tôi không muốn bỏ lỡ. Tôi đã chán cảnh làm cu li và đã mất đi người em gái yêu quý. Tôi chả còn gì để mất nữa nên gật đầu đồng ý.
Chiếc Mercedes quay trở lại khách sạn Thiên Nga Trắng. Lúc rời khỏi khách sạn trước đó, tôi nghĩ tôi sẽ không bao giờ quay trở lại. Chiếc xe đỗ xuống trước cửa khách sạn và những người gác cổng làm tôi sợ hãi khi trước chạy ra đón chúng tôi, mở cửa xe một cách kính cẩn. Khi thấy tôi ra khỏi xe họ không giấu nổi sự kinh ngạc. Tinh thần tôi tự nhiên phấn chấn hẳn lên. Cho dù số phận có sắp đặt điều gì thì có được cái cảm giác thăng hoa này tôi thấy cũng đáng.
Tôi bước vào khách sạn lần đầu tiên, đi theo người đàn ông mặc vest. Trong tiền sảnh khách sạn có rất nhiều người sang trọng ăn vận thanh lịch. Tôi không đừng được, dừng lại ngắm nhìn họ. Người đàn ông kia liền túm lấy tay tôi và kéo đi xềnh xệch. Anh ta đẩy tôi vào trong thang máy lên tầng thứ hai mươi sáu. Khi cửa mở ra, tôi bắt đầu lo lắng tới mức không nhấc nổi chân. Tôi tự bảo mình, nếu bước chân ra ngoài thì mình sẽ không bao giờ quay đầu lại được nữa.
·3·
“Ra ngoài nhanh lên,” người đàn ông kia sốt ruột bảo. Tôi nhìn anh ta như bị thôi miên.
“Tôi nghĩ là tôi không thể nhận việc này. Tôi không mang theo giấy tờ gì cả. Xin hãy để tôi đi.”
Chẳng thèm đếm xỉa tới những gì tôi nói, anh ta túm lấy tôi và lôi ra khỏi thang máy. Anh ta rất khỏe, tôi không còn cách nào khác ngoài làm theo. Chân tôi run lẩy bẩy vì sợ hãi. Người đàn ông kia lôi tôi vào một hành lang lờ mờ tối và kéo tôi đi sâu mãi vào trong. Xung quanh chẳng thấy bóng người nào.
Trải dọc theo hành lang là một tấm thảm màu be với các họa tiết trang trí hình hoa súng và chim phượng sang trọng tới mức tôi thấy ngại khi giẫm lên trên. Một ngọn đèn yếu ớt tỏa sáng từ một góc hành lang phía xa và từ đâu đó vang lên tiếng nhạc du dương. Một thứ mùi thơm ngây ngất phảng phất khắp hành lang. Tôi cảm thấy sự sợ hãi biến mất, thay vào đó là cảm giác nhẹ nhàng, thư thái. Một sự biến đổi đột ngột tới kinh ngạc. Nếu không rời khỏi làng có lẽ tôi sẽ chết mà không biết trên đời có một chốn kỳ diệu như thế.
Người đàn ông gõ lên cánh cửa cuối cùng trong hành lang. Một giọng phụ nữ the thé vang lên và cửa bật mở. Một người phụ nữ trẻ vận vest màu xanh hải quân, son môi đỏ chót đứng trước mặt chúng tôi. “Vào đi,” cô ta nói như ra lệnh. Tôi lo lắng nhìn quanh và thở phào nhẹ nhõm, trong phòng còn có ba người đàn ông khác trạc tuổi tôi. Tôi đoán chắc họ cũng được mang tới đây giống như tôi. Họ ngồi trên một chiếc sofa xem vô tuyến vẻ lo lắng.
Tôi rụt rè ngồi xuống bên mép ghế sofa. Những người kia cũng đều là dân ngoại tỉnh giống như tôi. Nhìn quần áo họ mặc là biết ngay. Họ cũng lo lắng khi bị một người đàn ông và đàn bà lạ mặt lôi tới đây, trong một căn phòng sang trọng ngoài sức tưởng tượng. Họ cũng không biết chuyện gì đang chờ đợi mình.
“Chờ ở đây,” người đàn ông kia nói rồi bước sang phòng kế bên. Anh ta biến mất một lúc lâu. Người phụ nữ tô môi đỏ chót không nói tiếng nào. Cô ta chỉ ngồi đó xem vô tuyến với chúng tôi. Mắt cô ta sắc và xảo quyệt. Tôi đoán cô ta hoặc là công an hoặc là nhân viên chính phủ. Tôi đã làm việc với thân phận lao động ngoại tỉnh ở đây hơn ba tháng nên có thể đánh hơi ra họ ngay. Cái vẻ chuyên quyền, ngạo nghễ đã tiết lộ về họ.
Vô tuyến chuyển sang phần thời sự, đưa tin về một cuộc bạo động nào đó. Những người thanh niên máu chảy ròng ròng trên mặt, những chiếc xe bọc thép lăn trên phố, mọi người bỏ chạy, tìm chỗ ẩn nấp. Trông giống như một cuộc nội chiến. Sau này tôi nghe nói đó là ngày tiếp sau vụ thảm sát Thiên An Môn. Tôi chưa bao giờ nghe nói tới cái gọi là biểu tình và không tin nổi vào mắt mình nữa. Người phụ nữ với gương mặt xảo quyệt cầm chiếc điều khiển lên và tắt vô tuyến đi. Đám đàn ông có vẻ căng thẳng, lảng tránh ánh mắt của cô ta, nhìn nhau vẻ bồn chồn.
Căn phòng rộng mênnh mông, có thể chứa tới hai mươi hay ba mươi người được thiết kế theo phong cách Rococco châu Âu. Trong phòng có một chiếc sofa kiểu phương Tây đồ sộ và một màn hình vô tuyến cỡ bự. Ở góc phòng có một quầy bar. Rèm cửa sổ được kéo lên cao nên tôi có thể nhìn thấy ánh hoàng hôn lấp lánh trên sông Ngọc. Bên ngoài trời có thể rất nóng nhưng trong phòng có máy đìều hòa nhiệt độ nên không khí khô và lạnh. Hay nói cách khác là vô cùng mát mẻ.
Người phụ nữ nhìn tôi chòng chọc nhưng không làm tôi nao núng, tôi đứng dậy và nhìn ra bên ngoài cửa sổ. Phía bên tay phải, tôi nhìn thấy những túp lều dựng tạm của một đám lao động nhập cư. Thật là một cảnh tượng nhếch nhác. Đáng lẽ họ không được phép dựng lều ở một nơi đẹp đẽ như thế này, tôi nghĩ. Sự kiện Thiên An Môn là một cái gì đó xa vời, chẳng liên quan gì tới tôi.
Cửa phòng bên khẽ mở ra và người đàn ông lúc nãy thò đầu vào chỉ về phía tôi.
“Anh kia, lại đây. Những người còn lại có thể đi.”
Những người đàn ông khác trông vừa như trút được gánh nặng, vừa thất vọng vì bỏ lỡ cơ hội. Họ đứng dậy và đi ra ngoài. Tôi đi sang phòng bên cạnh, vẫn không hề biết điều gì đang chờ đợi mình. Ở giữa phòng là một cái giường ngủ rất rộng. Một người phụ nữ ngồi hút thuốc trong một chiếc ghế bành cạnh giường. Đó là một người phụ nữ thấp, cơ thể rắn chắc, gọn gàng. Tóc bà ta nhuộm màu nâu đỏ và bà ta đeo một cặp kính lớn, có gọng màu hồng, váy ngủ màu đỏ tươi. Trông bà ta có vẻ lòe loẹt và khoảng ngoài bốn mươi.
“Lại đây.”
Giọng bà ta nhẹ nhàng một cách bất ngờ. Bà ta ra hiệu cho tôi tới bên một chiếc sofa nhỏ. Lúc ngồi xuống tôi mới nhận ra rằng người đàn ông lúc nãy đã không còn ở đó nữa. Trong phòng chỉ còn lại tôi với bà ta, mặt đối mặt. Người phụ nữ ngước mắt lên quan sát tôi một cách kỹ lưỡng, chiếc kính làm mắt bà to trông to gấp đôi bình thường. Chuyện quái quỷ gì sẽ xảy ra tiếp theo đây? Tôi nhìn bà ta và tự hỏi.
“Anh nghĩ gì về tôi?”
“Rằng bà thật đáng sợ,” tôi thành thật trả lời khiến bà ta bĩu môi, mặt hơi nhăn lại.
“Ai cũng nói vậy.”
Bà ta đứng dậy mở một cái hộp nhỏ có khóa để trên giá cạnh đầu giường. Bà ta lôi ra một cái gì đó giống như một thìa trà và đổ nó vào trong ấm. Tay bà ta rất thô. Rồi bà ta rót nước sôi vào trong ấm. Bà ta pha cho tôi một tách trà.
“Đây là một loại trà rất ngon,” bà ta nói.
Tôi thích được uống Coca-Cola hơn, tôi nghĩ thầm. Nhưng không muốn chọc giận bà ta, người rõ ràng có quan điểm khác hẳn nên tôi chỉ gật đầu.
Bà ta hào hứng nói tiếp. “Đây là trà ô long chất lượng hàng đầu. Thu hoạch từ trang trại của tôi ở Hồ Nam. Hàng năm chúng tôi chỉ sản xuất với số lượng rất nhỏ.”
Bà ta lấy tay vẽ tượng trưng một vòng tròn nhỏ cỡ trái banh. Tôi chưa bao giờ được thưởng thức một loại trà quý hiếm như vậy.
“Tên anh là gì?”
Người phụ nữ nhấp một ngụm trà rồi nhìn tôi chăm chú như đang đánh giá một món hàng. Ánh mắt bà ta nhẹ nhàng nhưng xuyên thấu. Tôi thấy tim mình thắt lại. Tôi không biết chuuyện gì đang xảy ra. Tôi chưa bao giờ lâm vào tình huống này, một mình với một người phụ nữ mục đích không rõ ràng.
“Zhang Zhe-zhong.”
“Một cái tên rất thường. Còn tôi là Lou-zhen(1). Tôi kiếm sống bằng nghề viết ca khúc.
1. Lâu Chân.
Tôi không hình dung nổi việc người ta có thể sống bằng nghề viết ca khúc nhưng ngay một kẻ quê mùa ngây ngô như tôi cũng có thể nhận ra rằng một người phụ nữ sống trong khách sạn sang trọng nhường này hẳn không phải là người thường. Lou-zhen, một người sáng tác ca khúc thuê người ra ngoài tìm kiếm những người đàn ông như tôi. Tại sao? Có phải bà ta liên quan tới tội phạm có tổ chức? Ý nghĩ đó khiến tôi run rẩy, rùng mình vì một mối sợ hãi không tên. Thế nhưng Lou-zhen chỉ nói vẻ phật ý, “Tôi chỉ muốn anh trở thành tình nhân của tôi.”
“Tình nhân của bà? Bà định nói gì cơ?”
“Ý tôi là anh sẽ ngủ với tôi.”
Bà ta nhìn thẳng vào mặt tôi khi nói những lời này. Tôi cảm thấy má mình nóng rực lên.
“Tôi không thể làm vậy.”
“Có, anh có thể,” bà ta trả lời mềm mỏng. “Đổi lại tôi sẽ cho anh rất nhiều tiền. Anh muốn có tiền, đúng không? Đó là lý do tại sao anh lên thành phố làm lao động ngoại tỉnh, không phải vậy sao?”
“Thì đúng là vậy… Nhưng tôi được trả tiền để làm việc.”
“Anh cũng có thể nói đây là một công việc.”
Nói xong thì bà ta dường như cũng nhận ra mình hơi hớ nên bật cười chữa ngượng. Dựa trên cách xự sự của bà ta, tôi không thể đoán nổi bà ta xuất thân từ một gia đình nền nếp hay không.
“Nhiều tiền là bao nhiêu?”
“Nếu anh làm tôi thỏa mãn, tôi sẽ cho anh bất cứ thứ gì anh muốn. Anh nghĩ sao? Điều khoản quá tốt, đúng không?”
Tôi không thể trả lời ngay lập tức. Trái tim tôi bị giằng xé. Một mặt tôi không muốn bán thân mua vui với bất cứ giá nào, mặt khác tôi đã quá mệt mỏi với công việc thợ hồ và ý tưởng kiếm tiền một cách dễ dàng như vậy thật là cám dỗ. Mà còn hơn cả thế. Cuối cùng đồng tiền đã chiến thắng. Tôi chậm rãi gật đầu đồng ý. Lou-zhen mỉm cười và rót cho tôi một chén trà đầy.
Sự thực là tôi đã hết sức can đảm khi viết ra những dòng này. Tôi đã do dự muốn ém nhẹm tất cả những chi tiết này trong lời khai trình lên tòa trước đây, thưa Quý tòa. Nhưng giờ tôi đã được trao cho một cơ hội để nhìn lại quá khứ. Tôi chỉ cầu mong các ngài sẽ không tỏ ra khinh bỉ hay định kiến với những gì tôi viết ra ở đây.
Tôi đã để cho Lou-zhen, một người phụ nữ trung niên giàu có, mua mình như thế. Tôi biết bà ta chỉ quan tâm tới thân xác mình nhưng đôi khi tôi vẫn tự hỏi không biết bà ta có thật lòng yêu tôi? Vì tuy rằng bà ta luôn dùng giọng bề trên để nói với tôi nhưng lúc nào bà ta cũng chiều tôi như một thứ vật cưng. Lý do mà bà ta chọn tôi giữa những người đàn ông khác là vì khuôn mặt tôi gần giống với hình mẫu lý tưởng của bà ta. Và bà ta cũng thích cái cách tôi tự động đứng dậy nhìn ra ngoài cửa sổ thay vì ngồi lại với những người khác xem vô tuyến. Sau này tôi mới biết trong phòng đợi có một tấm gương hai mặt và Lou-zhen đã quan sát chúng tôi từ phòng ngủ.
Lou-zhen ra lệnh cho tôi phải ở lại khách sạn. Trong thời gian ở đây, tại khách sạn sang trọng này, tôi đã nghe và thấy những điều tôi chưa hề trải qua: đồ ăn tây, phép tắc ở bàn ăn, những bữa sáng suy đồi trên giường, bể bơi trên mái nhà. Tôi sinh ra và lớn lên ở miền núi nên không biết bơi. Nằm bên cạnh bể bơi tắm nắng, tôi nhìn Lou-zhen bơi nhiều vòng quanh bể với những sải tay mạnh mẽ, thuần thục. Bể bơi chỉ dành cho những người có thẻ thành viên, hoặc là người nước ngoài hoặc là người Trung Quốc nhiều tiền. Tôi đặc biệt ngưỡng mộ những người phụ nữ phương Tây sành điệu và thấy xấu hổ khi phải cặp với một người kém hấp dẫn như Lou-zhen.
Tôi bắt đầu uống, bia, whiskey, brandy và rượu vang. Lou-zhen thích xem phim Mỹ. Bà ta rất ít khi xem thời sự. Tôi muốn tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra ở Thiên An Môn nhưng Lou-zhen không đặt báo nên tôi chịu không có cách nào đọc được. Một lần bà ta tiết lộ hồi trẻ từng đi Mỹ. Vào thời điểm đó chỉ có quan chức chính phủ hay sinh viên trong diện trao đổi giáo dục mới có thể xuất ngoại nên tôi thấy việc đi Mỹ của Lou-zhen vô cùng bí ẩn. Nhưng tôi không bao giờ hỏi bà ta bất cứ điều gì. Tôi diễn vai phi công trẻ của mình một cách hoàn hảo. Tôi làm tất cả để có thể biến cuộc sống trong căn phòng khách sạn này thành chốn thiên đường.
Căn phòng đúng là có dáng vẻ thiên đường nhưng Lou-zhen là một mụ đàn bà ghê gớm. Nếu tôi có trót bày tỏ bất cứ quan điểm nào là bà ta sẽ nổi giận đùng đùng. Bà ta hống hách tự phụ, không cho phép tôi có quyền được đưa ra ý kiến. Nhiều lúc tôi chỉ muốn cắt đứt quan hệ với bà ta và bỏ đi một nơi nào đó thật xa để sống cuộc đời của mình. Chu vi tồn tại của tôi giờ chỉ gói gọn trong căn hộ ở khách sạn và bể bơi trên tầng hai mươi sáu. Tôi không được phép đi lại tự do trong khách sạn hay ra ngoài một mình. Sau một tuần nhận lời sống với Lou-zhen, tôi đã bắt đầu cảm thấy hối hận.
Khoảng mười ngày sau sự kiện Thiên An Môn, có chuyện gì đó đã xảy ra. Chiếc điện thoại cạnh giường đổ chuông, Lou-zhen nhấc máy, mặt tái nhợt đi một cách bất thường. Giọng bà ta hết sức căng thẳng.
“Thôi được rồi? Thế tôi phải làm gì? Chắc tôi sẽ quay về ngay lập tức.”
Trông bà ta vẫn có vẻ kích động sau khi gác máy. Bà ta cúi về phía tôi, tôi ôm lấy bà ta từ phía sau.
“Có vài chuyện rắc rối đã xảy ra ở Bắc Kinh.”
“Có gì liên quan tới bà không?”
Lou-zhen đứng dậy, châm một điếu thuốc. “Đặng Tiểu Bình coi như xong sau khi ra tay như thế,” bà ta lẩm bẩm. Chỉ có vậy nhưng đủ để tôi nhận ra nguyên nhân việc giữ bí mật về thân thế của Lou-zhen vì bà ta hẳn là con gái của một đảng viên cao cấp. Cha bà ta hẳn đang gặp rắc rối sau sự kiện Thiên An Môn.
Cả ngay hôm đó, Lou-zhen ở trong tâm trạng cáu kỉnh. Bà ta nhận được nhiều cú điện thoại khác và càng lúc càng thêm lo lắng, giận dữ và trầm uất. Tôi ngồi xem một bộ phim Hollywood cho tới khi Lou-zhen bảo tôi, “Tôi phải về Bắc Kinh vài hôm, Zhe-zhong. Anh hãy chờ tôi ở đây nhé!”
“Tôi không thể đi với bà sao? Tôi chưa tới Bắc Kinh bao giờ.”
“Không. Không được.” Lou-zhen lắc đầu một cách quả quyết như đàn ông.
“Vậy thì tôi có thể đi lại loanh quanh ở khách sạn chứ?”
“Chắc chả làm khác được. Nhưng nhớ là luôn phải đi cùng với anh ta.”
Anh ta chính là vệ sĩ của Lou-zhen, người đã tìm ra tôi lần trước.
“Anh không thể bỏ đi mà không nói với tôi câu nào, cũng không được lăng nhăng với đàn bà khác. Nếu anh giở trò thì tôi sẽ nhốt anh lại đấy.”
Lou-zhen lên đường tới Bắc Kinh, để tôi ở lại với lời đe dọa đó. Bà ta mang Bai Jie(1), người phụ nữ có khuôn mặt xảo quyệt, đi cùng. Bai Jie là thư ký của bà ta và sống cùng tầng khách sạn. Người phụ nữ đó hẳn khinh bỉ tôi vì mỗi lần ở gần tôi cô ta đều nhìn đi chỗ khác vẻ kinh tởm. Tay vệ sĩ và tài xế cũng chả tốt lành hơn. Họ hẳn đoán rằng Lou-zhen sớm muộn cũng chán tôi nên không có mặt bà ta ở đó là họ đối xử với tôi rất lỗ mãng.
1. Bạch Khiết
Nhưng tôi muốn ra ngoài bằng mọi cách. Hôm Lou-zhen và thư ký của bà ta đi Bắc Kinh, tôi đi thăm thú khách sạn dưới con mắt giám sát của tay vệ sĩ.
“Thế cha của Lou-zhen là ai?” tôi hỏi anh ta khi chúng tôi ở trong thang máy. Lần đầu tiên gặp nhau tôi đã rất sợ anh ta nhưng giờ thì ngược lại nên anh ta có vẻ không hài lòng. Anh ta không nói gì và quay đi chỗ khác.
Tôi liền dọa anh ta. “Anh biết đấy, khi Lou-zhen quay lại tôi sẽ chả khó khăn gì khi bảo với bà ta về chuyện anh và cô thư ký lấy trộm thuốc lá và rượu của bà ta đi bán.”
Tay vệ sĩ tái mét. “Nếu anh nóng lòng muốn biết thì tôi sẽ nói cho anh. Nhưng một kẻ dốt nát như anh thì nghe tên cũng chả biết đó là ai đâu mà.”
“Nói ra thử xem.”
“Li Tou-min(1).”
1. Có thể là một trong những cái tên sau: Lý Đầu Dân, Lý Thấu Dân, Lý Thấu Mẫn, Lý Thấu Mân…
Tôi không tin nổi vào tai mình nữa và suýt khuỵu xuống sàn. Li Tou-min là nhân vật lớn của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Lou-zhen dọa sẽ tống tôi vào tù nếu bỏ trốn nhưng lúc đó tôi không biết là bà ta có thể làm thế thật. Tôi đúng là đã dính vào một người đàn bà nguy hiểm.
“Anh không đùa đấy chứ?”
Tôi túm lấy vai của tay vệ sĩ tra khảo nhưng anh ta vùng ra và bảo. “Cô ta là con gái đầu của ông Li. Mọi chuyện sẽ diễn ra theo chiều hướng có lợi hay hại đều phụ thuộc vào cách xử sự của anh. Tất cả những kẻ trước anh đều là đồ ngốc. Họ lao vào hưởng thụ cuộc sống giàu sang này mà quên mất chúng tôi mới là người lôi họ ra khỏi bùn hôi. Đó là lúc Lou-zhen có thể trở nên đáng sợ. Bà ta sẽ cho bọn họ biết được vị trí thực sự của mình.”
“Anh đang nói rằng nếu cẩn thận thì tôi sẽ không sao chứ gì?”
Nhưng tay vệ sĩ chỉ mỉm cười, không trả lời. Tôi lên gân cốt định đánh gục tay vệ sĩ trong thang máy. Nhưng đúng lúc tôi định ra tay thì chiếc thang máy rùng rùng đứng lại vì chúng tôi đã xuống tới tầng một, cả một thế giới khác mở ra trước mắt tôi.
Tôi quên bẵng mất Lou-zhen. Những gia đình đi nghỉ, ăn mặc thoải mái đi lại trong sảnh, các doanh nhân sải bước hối hả và những người gác cổng trong bộ đồng phục màu nâu sẫm. Tôi bị nhốt trong phòng của Lou-zhen quá lâu, ít nhất hai tuần nay tôi chưa được ra ngoài. Một phụ nữ phương Tây mặc váy trễ lưng thơ thẩn đi qua và mỉm cười khi bắt gặp ánh mắt của tôi. Thế giới mới rộng lớn làm sao? Tôi hoàn toàn bị mê hoặc bởi sự đa dạng của những người mà tôi nhìn thấy trong khách sạn. Họ đều là những người sống êm đềm trong cảnh giàu sang phú quý. Tôi muốn được giống họ. Không, tôi nhất định phải trở thành một người trong số họ. Trái tim vốn khao khát tiền bạc và thèm muốn tự do của tôi giờ đây ngập tràn cay đắng. Tôi chỉ muốn bỏ trốn. Như đọc được ý nghĩ của tôi, tay vệ sĩ thì thầm vào tai tôi vẻ cộc cằn. “Nhớ để ý đấy. Quần áo anh mặc đều là của Lou-zhen, kể cả giày dép, tất cả. Nếu có định chạy trốn, bà ta sẽ buộc anh tội ăn cắp.”
“Anh là một tên khốn.”
“Còn anh là đồ nhà quê.”
“Chả biết ai quê hơn ai đâu.”
“Tôi không phải nhà quê. Tôi là người Bắc Kinh.”
Mặc dù quặc nhau nhưng chúng tôi đều không biểu lộ gì trên nét mặt trong khi đi loanh quanh khắp sảnh khách sạn.
Sự thực là chiếc áo polo trắng, quần jean và giày của tôi đều là do Lou-zhen đưa cho mặc. Chiếc áo polo được thiết kế bởi Fred Perry ở London. Quần jean là đồ Levi và đôi giày Nike bằng da màu đen sọc trắng. Vào thời điểm đó những người Trung Quốc có khả năng đi giày Nike hiếm tới độ có thể đem ra đếm được. Nên lúc đầu khi được xỏ vào đôi giày này tôi đã sướng tới phát rồ. Sáng nào tôi cũng nâng niu chúng trên tay như bảo vật. Mà chính xác là vì tôi ăn mặc quá sang nên người ta mới nhìn tôi bằng con mắt kính cẩn.
Ừ, đúng là anh ta trẻ thật nhưng anh ta hẳn rất giàu. Những người gác cổng hẳn nghĩ thế khi nhìn đôi giày Nike của tôi một cách ghen tị. Trước đó tôi còn đang choáng ngợp trước sự giàu có của Lou-zhen. Tôi ngộp trong không khí giàu sang của bà ta cho tới khi cảm thấy lồng ngực muốn nổ tung. Nhưng sự giàu sang còn trở nên sáng giá hơn khi có người ngưỡng mộ. Nó hẳn mất đi phân nửa giá trị nếu không có ai dòm ngó tới. Phát hiện ra điều này tôi càng thấy cần phải chạy trốn khỏi Lou-zhen, khỏi sự kìm kẹp của bà ta.
Tôi ngồi xuống một chiếc sofa ở góc sảnh, thỏa thuê nhìn ngắm mình trong bộ quần áo đắt tiền. Có một chiếc cửa sổ ở ngay đối diện và tôi có thể nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của mình trên kính. Thấy vậy, tay vệ sĩ mỉa mai. “Đúng là người đẹp vì lụa! Cái tên trước anh mặc bộ này cũng đẹp.”
Tôi mất hết cả hứng. Hóa ra đây là quần áo dùng rồi? Thế mà tôi cứ tưởng là đồ mới.
“Chuyện gì đã xảy ra với anh ta?”
“Xem nào. Cái tên tiểu tử người Hắc Long Giang ấy chúng tôi bắt quả tang hắn ta uống trộm trà quý của Lou-zhen. Còn tên khốn trước đó là người Nội Mông. Hắn ta đeo cái nhẫn ruby của Lou-zhen xuống bể bơi và làm mất viên đá quý. Hắn ta bảo muốn nhìn xem đá quý trông dưới nước như thế nào. Toàn những chuyện không tránh khỏi với mấy tên nhà quê đó. Giờ thì cả hai đang được tiếp đãi trong tù.”
Nghe vậy trong lòng tôi lại bùng lên một nỗi sợ hãi. Nếu đó cũng là số phận đang chờ tôi phía trước? Tôi mới dọn tới ở với Lou-zhen được hai tuần. Bà ta có vẻ hài lòng tôi nhưng tôi thì không thể chịu đựng bà ta thêm được nữa. Từ lúc đó trở đi tôi chỉ nghĩ tới việc bỏ chạy cùng với một số đồ của bà ta.
Các ngài phải bỏ qua cho tôi vì tôi không nghĩ rằng đó là hành vi ăn trộm. Vì sao? Tôi không hề được đền bù thỏa đáng so với cái công việc khó khăn mà tôi phải làm. Lúc đầu Lou-zhen có hứa hẹn với tôi về lương lậu nhưng bà ta không trả tôi quá hai mươi tệ một ngày. Tôi thấy không công bằng vì bà ta luôn hứa hẹn nhiều hơn thế. Nhưng hễ tôi hỏi là bà ta lại bảo, “Không, không. Tôi trả anh một trăm tệ một ngày đấy chứ. Nhưng sau khi trừ tiền phòng và sinh hoạt thì còn lại chừng đó. Dĩ nhiên, tôi đã tha không lấy tiền thuốc là và đồ uống.”
Tay vệ sĩ vỗ vào tay tôi và bảo, “Đã tới lúc phải về thôi.” Không có sự lựa chọn nào khác, tôi đứng dậy, thấy mình giống hệt một tù nhân. Một cậu bé nông dân đáng thương bị bắt cóc bởi con gái lãnh đạo đảng cầm quyền.
“Nhìn kìa. Nhìn đứa bé trong xe đẩy ấy,” tay vệ sĩ bảo tôi.
Một người đàn ông và một phụ nữ da trắng, có lẽ là một cặp vợ chồng người Mỹ, đang đẩy một chiếc xe nôi đi qua. Họ dừng lại bên đài phun nước. Tôi sững sờ nhìn họ đứng đó mỉm cười mãn nguyện. Sao lại có những người may mắn tới vậy, có thể đi du lịch nước ngoài với cả gia đình? Người chồng vận quần soóc, áo thun. Người vợ cũng mặc một chiếc áo thun hợp tông, quần jean màu xanh. Trông đúng là một cặp vợ chồng người da trắng khỏe mạnh, năng động. Nhưng đứa bé trong xe đẩy trông bé tí tẹo, như thể còn chưa ngồi vững lại là người châu Á. Không biết có phải những người nước ngoài nhân từ kia đã nhận nuôi đứa trẻ đáng thương đó?
“Có chuyện gì vậy?”
Tay vệ sĩ kín đáo chỉ quanh. Trong khách sạn có rất nhiều cặp vợ chồng da trắng giống như hai người đó đang đẩy xe nôi, tất cả trẻ con trong xe đều là người Trung Quốc, cả trai lẫn gái. Những đứa trẻ đều mặc quần áo sơ sinh màu trắng mới tinh.
“Môi giới con nuôi.”
“Ai cơ?”
Tay vệ sĩ nhìn lên trần nhà.
“Lou-zhen á? Sao bảo bà ta là người sáng tác ca khúc cơ mà.”
“Đấy là bà ta nói thế. Thế cậu đã được nghe bài hát nào của bà ta chưa?”
Khi tôi lắc đầu anh ta khịt mũi rồi nói tiếp. “Môi giới con nuôi mới là công việc thực của bà ta. Bà ta điều hành một tổ chức từ thiện.”
Tôi ngờ là chả có gì từ thiện trong chuyện này. Lou-zhen là người thích giàu sang. Bà ta sẽ không làm nếu không được trả hậu hĩnh. Nhưng tôi không biết gì về chuyện này nên tôi không muốn nói thêm về nó. Cái tôi muốn nói không phải là chuyện cho con nuôi mà là sự ghen tị khi tôi nhìn thấy những đứa trẻ đó. Chúng thật là may mắc được đi Mỹ khi còn nhỏ xíu chưa biết gì. Chúng sẽ được nuôi dạy thành người Mỹ một cách dễ dàng.
Tôi sinh ra và lớn lên ở Trung Quốc. Và dù đã sống ở đây một thời gian dài nhưng chưa ai cho không tôi cái gì bao giờ. Nếu bạn sinh ra ở nông thôn thì bạn nên ở lại đó. Nếu bạn muốn lên thành phố thì cần phải có giấy thông hành. Còn ra nước ngoài thì hãy quên đi. Những người ngoại tỉnh tới thành phố làm việc như chúng tôi chỉ đủ tay làm hàm nhai, tránh va chạm với luật pháp đã là may lắm rồi.
Tôi đang suy nghĩ miên man thì tay vệ sĩ véo vào cùi tay tôi và bảo, “Này! Thức dậy đi! Cũng nói để cậu biết luôn tên tôi là Yu Wei(1). Ông Yu Wei nghe rõ chưa, đồ khốn. Đừng có quên đấy.”
1. Có thể là Vu Vi, Vu Uy, Dư Vĩ, Dư Uy…
Sau này Yu Wei bảo tôi rằng Lou-zhen phải chạy vội về Bắc Kinh vì em trai của bà ta bị thương nặng trong cuộc bạo động sau cuộc biểu tình ở Thiên An Môn. Anh ta bị gãy tay và bị bắt. Lou-zhen có hai em trai cùng cha khác mẹ, trẻ hơn bà ta một chút. Một người là nghệ sĩ, chuyên ngành in ấn, sống ở Thượng Hải. Người kia sống ở Bắc Kinh và có một ban nhạc rock với vài người bạn. Ban nhạc của cậu ta đã tổ chức nhiều cuộc biểu diễn trước chỗ sinh viên cắm trại biểu tình hòa bình ở quảng trường Thiên An Môn.
Lou-zhen đi Bắc Kinh lâu hơn dự định. Bà ta vẫn chưa tìm ra cách nào để giúp em trai mình nên phải kéo dài chuyến đi. Nếu cha bà ta sử dụng ảnh hưởng chính trị của mình thì có thể lôi con trai ra khỏi tù ngay lập tức. Nhưng các buổi biểu diễn của cậu ta đã được ghi hình và phát lên bản tin thời sự gây ra sự chú ý của cả nước và thế giới nên thả cậu ta ra không hề đơn giản. Thế nào cũng có dư luận nếu họ thả cậu ta ra. Thậm chí, Yu Wei bảo, chính quyền còn phải tỏ ra cứng rắn hơn với cậu ta để làm gương.
Ba người con của ông Li đều được gửi sang Mỹ du học với những khoản tiền trợ cấp khổng lồ rồi được tạo điều kiện để làm việc trong những ngành thời thượng có yếu tố nước ngoài tại những thành phố mà họ muốn. Thật ra là trên cả may mắn. Là một đảng viên cao cấp, Li đã sử dụng quyền lực của mình để tư lợi.
Nghe Yu nói thế tôi thấy ghen tức nhiều hơn là tức giận. Lại một lần nữa: Ở Trung Quốc, số phận một người được định đoạt bởi chỗ anh ta sinh ra. Nếu tôi sinh ra trong gia đình một ủy viên chính trị, thì sẽ không bao giờ xảy ra tội ác này. Tôi lại bị giày vò vì sự thiếu may mắn của mình.
Hai tuần đã trôi qua nhưng Lou-zhen vẫn chưa trở lại. Bà ta vẫn bận rộn chạy quanh Bắc Kinh để lo lót cho em trai mình được thả. Nếu là tôi, tôi sẽ chả quan tâm tới em trai cùng cha khác mẹ của mình làm gì. Nhưng có lẽ, với một người như Lou-zhen, vốn sinh ra trong giàu sang thì không thể chỉ nghĩ tới bản thân khi lợi ích của cả gia đình bị đe dọa.
Ngày nào Lou-zhen cũng gọi điện thoại cho Yu Mei. Khi nói chuyện với bà ta, Yu Mei quay sang nháy mắt với tôi vẻ biết tỏng, rồi nhăn nhó mặt đủ kiểu. Phải cố gắng lắm tôi mới không phá lên cười.
Tôi trở thành chiến hữu của Yu Wei trong thời gian Lou-zhen vắng mặt. Chúng tôi cùng xem phim, uống rượu của Lou-zhen và về cơ bản tự tìm cách giải sầu. Chủ đề ưa thích của chúng tôi là bàn luận về vụ biểu tình ở Thiên An Môn. Yu Wei chỉ vào một phụ nữ trẻ, một nhà hoạt động xuất hiện trên bản tin thời sự mà chúng tôi đang theo dõi. Cô ta đang huy động mọi người tụ tập xung quanh mình. “Cô này là rắc rối lắm đây, Zhe-zhong. Nhìn mắt cô ta là biết. Dính phải một đứa con gái như thế này đúng là gặp họa.”
Yu Wei ba mươi hai tuổi. Anh ta nói là người Bắc Kinh nhưng thực ra là con một gia đình nông dân ở ngoại ô thành phố. Mẹ anh ta là người giúp việc cho gia đình họ Li và nhờ thế mà xin được cho anh ta chân vệ sĩ.
Yu Mei cũng là một người có ảnh hưởng xấu. Anh ta mua rượu whiskey rẻ tiền trộn lẫn với rượu scotch của Lou-zhen. Anh ta lục thùng rác lấy những bản nháp thư từ, tài liệu mà Lou-zhen vứt đi. Anh ta bảo rằng phải giữ chúng để phòng thân, nếu cần thì để tống tiền bà ta. Anh ta cũng lục lọi ngăn kéo của bà ta để tìm chìa khóa két của bà ta. Tôi chỉ lo nếu anh ta bị phát hiện thì thế nào tôi cũng là kẻ giơ đầu chịu báng nhưng anh ta chỉ cười và bảo tôi là đồ nhát chết.
Hôm chúng tôi nhận được tin Lou-zhen sẽ trở về chiều hôm sau, Yu Wei và tôi đi lên bể bơi trên tầng thượng. Đối với Yu Wei đây là một thú vui bị cấm đoán.
“Mẹ kiếp, đúng là một kiểu thiên đường!” Yu Wei nói.
Bể bơi dài hai mươi lăm mét, nước trong vắt, đáy bể sơn màu xanh tạo thành những lớp sóng trập trùng dưới ánh mặt trời. Một cơn gió nóng khẽ thổi qua. Những con phố phía dưới rất ầm ĩ nhưng không một tiếng động nào lọt được vào không gian yên tĩnh trên này. Quanh bể bơi chưa có tới mười người, chẳng có ai bơi. Tất cả đều ngồi tắm nắng không để ý gì tới xung quanh.
Ở góc sân có một quầy bar nhỏ. Tôi không biết cô ta tới từ lúc nào nhưng có một phụ nữ trẻ đang ngồi đó uống cocktail như đang chờ đợi ai. Tóc cô ta dài xõa xuống lưng. Cô ta chỉ đeo mỗi kính râm và mặc một bộ bikini thiếu vải. Phụ nữ tử tế thường không ra bể bơi một mình nên tôi đoán cô ta hẳn là gái điếm đang chờ kiếm khách.
“Tôi đang tự hỏi không hiểu cô ta có chịu đi với chúng ta không?”
Nghe tôi nói thế, Yu Wei chìa cho tôi xem cuộn tiền anh ta giấu dưới khăn tắm. “Với cái này thì có đấy.”
“Anh lấy trộm ở đâu ra đấy?”
Đó hẳn là tiền của Lou-zhen. Chúng tôi có thể thoát vụ trộm rượu nhưng thụt két của bà ta thì thật là lớn chuyện. Tôi sợ xanh mặt.
“Bỏ mẹ. Nếu bà ta nghĩ tôi lấy thì sao?”
“Đừng lo!” Yu Wei trả lời vẻ bực bội. Anh ta châm một điếu thuốc. “Chúng ta sẽ lấy lại của cô ta sau khi làm xong chuyện đó và để vào chỗ cũ trước khi trời sáng.”
“Vậy thì tiến hảnh thôi.”
Yu Wei rút ra vài tờ ấn vào tay tôi. Cô gái kia đang ngậm ống hút, mắt nhìn về hướng khác không để ý thấy chúng tôi đang lại gần. Cô ta trông thực sự quyến rũ. Chân tay dài, mảnh mai, mặt hình trái xoan thanh thoát.
“Xin chào,” tôi lên tiếng.
Cô gái quay lại, thở hắt ra vẻ kinh ngạc rồi bỏ kính ra. Tôi ngỡ ngàng nhìn đôi mắt to của Mei-kun lúc này đang chan chứa lệ.
“Zhe-zhong!”
“Chuyện gì vậy?” Yu Wei hỏi vẻ nghi ngờ.
“Đây là em gái tôi!”
“Vậy sao. Anh trai và em gái? Cũng giống nhau thật.”
Tôi tức tối nhìn sự thay đổi trên nét mặt của Yu Wei, chuyển từ ngạc nhiên sang khinh bỉ. Anh ta hẳn nghĩ mình đang đối diện với một cặp anh em làm điếm.
Càng nhìn gần mới càng thấy rõ Mei-kun giống gái điếm. Con bé trang điểm quá sặc sỡ, tóc nhuộm màu nâu đỏ hệt như một gái đứng đường mạt hạng. Tôi rất mừng gặp lại con bé nhưng không khỏi chua xót. Em bỏ anh lại ở ga Quảng Châu để trở nên thảm thương thế này hay sao? Đúng như tôi dự đoán! Tôi những muốn hét lên vào mặt con bé. Lòng tôi rối bời, không biết phải làm gì nữa. Tôi chỉ biết đứng đó, bàng hoàng không nói nên lời cho tới khi Mei-kun vỗ nhẹ lên vai Yu Wei và bảo. “Anh không phiền chứ? Chúng tôi có rất nhiều chuyện để nói với nhau. Hãy để chúng tôi nói chuyện riêng một lúc được không?”
Yu Wei nhún vai khinh khỉnh rồi mua một ly bia và tới ngồi ở đằng xa giở báo ra đọc.
“Ôi Zhe-zhong, gặp lại anh em mừng quá! Hãy đưa em đi khỏi Quảng Châu được không? Cái tên Jin-long đó đúng là con rắn độc. Hắn bắt em đi khách, sau đó lấy hết tiền. Nếu than vãn thì hắn sẽ đánh đập không thương tiếc. Giờ hắn đang chờ em ở dưới sảnh. Hắn bắt em để tìm khách. Mình cùng bỏ trốn được không?
Mei-kun vừa lo lắng vừa nhìn xung quanh. Tôi bàng hoàng nhìn con bé, đâu rồi Mei-kun lúc nào cũng đầy tự tin, biến hóa linh hoạt trong mọi hoàn cảnh. Nhưng tôi là ai cơ chứ? Ngay khi Lou-zhen trở về, tôi sẽ phải đi theo bà ta như một con cún. Cả hai anh em ra đến nông nỗi này, còn gì chua xót hơn? Tôi cảm thấy cay đắng, như thể đang bị dập vùi bởi một thế lực phi thường mà không tài nào cưỡng lại nổi. Nếu chưa trải qua chuyện này, các ngài sẽ không thể nào hiểu nổi cảm giác đó. Cảm giác của một kẻ không thể trốn chạy. Tại sao tôi lại sợ Lou-zhen đến vậy?
“Nói thì dễ. Nhưng chúng ta sẽ đi đâu?”
Tôi lên tiếng một cách yếu ớt, đầu óc mơ hồ. Nhưng Mei-kun lập tức trả lời vẻ chắc chắn. “Hãy tới Thẩm Quyến.”
Vậy là giống như lần trước, Mei-kun đã xác định điểm kế tiếp trong cuộc hành trình của tôi: Thẩm Quyến. Nghe nói nơi đó cũng là đặc khu kinh tế. Ở Thẩm Quyến có rất nhiều việc làm, lương lậu cũng khá. Tôi ở Nhật cũng đã nhiều năm nhưng mỗi lần qua ga Shinsen tôi lại nhớ về Trung Quốc. Hai địa danh Thẩm Quyến (Shenzhen) và Shinsen phát âm gần giống nhau. Ga tới là Shinsen, người lái tàu sẽ nói trong loa và trong giây lát tôi như quay trở lại khoảnh khắc đó. Thật là một cảm giác lạ lùng.
“Hay đấy, nhưng tới đó bằng cách nào?”
Tôi vô vọng nhìn lên trời. Một khi phát hiện tôi bỏ trốn, Lou-zhen sẽ truy tôi tới cùng bằng ảnh hưởng và quan hệ rộng rãi của bà ta. Tôi không muốn kết thúc ở trong tù, dưới đáy của xã hội. Mei-kun túm chặt lấy tay tôi và giậm chân quả quyết.
“Nghe này, chúng ta phải quyết định ngay. Chúng ta sẽ không bao giờ có được một cơ hội như thế này.”
Tôi quay sang ngó Yu Wei. Anh ta đang đang gườm gườm nhìn tôi. Không hiểu anh ta có nghi ngờ gì không?
“Zhe-zhong, chẳng lẽ anh muốn suốt đời em làm gái điếm hay sao?”
Không. Tôi lắc đầu, giống như bị ai đó tát vào mặt. Lại một lần nữa tôi có thể chắc chắn không ai có thể hiểu được cảm xúc của tôi lúc đó. Tôi lớn lên cùng với Mei-kun, tình cảm vô cùng thân thiết, con bé là một người rất quan trọng với tôi. Nhưng từ khi bị con bé bỏ rơi, lòng tôi sinh ra thù hận. Thù hận là một thứ đáng sợ khiến tim tôi đen tối, chỉ mong Mei-kun cũng phải hứng chịu một số phận cay đắng. Nhưng khi biết rằng con bé đang đau khổ, lòng tôi nào thấy vui. Nhìn con bé như vậy, tôi chỉ thêm đau đớn. Rốt cuộc, tôi quyết định bỏ trốn với Mei-kun với một lý do: Tôi không thể chịu đựng được ý nghĩ con bé ngủ với những người đàn ông khác. Chuyện đó làm tôi ghen tức. Như thể một thứ mà tôi sở hữu, một thứ gì đó của riêng tôi bị người khác phá hủy.
“Nhưng anh phải làm sao? Yu Wei lúc nào cũng theo sát anh.”
Ngay khi nghe tôi giải thích về tình hình hiện nay của mình, Mei-kun nhanh chóng bảo, “Không sao. Chỉ cần bảo anh ta là em muốn quan hệ với anh ta. Chúng ta sẽ diễn một tí, được không?”
Tôi dắt tay Mei-kun đến chỗ Yu Wei.
“Yu Wei, em gái tôi bảo rất thích anh.”
Yu Wei đẩy ghế đứng dậy, trông mặt rất hãnh diện.
“Vậy sao? Cậu đã nói giùm tôi có đúng không?”
Yu Wei rảo bước đi trước đầy vẻ tự tin. Chúng tôi theo sau. Ba người chúng tôi trở lại căn hộ của Lou-zhen. Mei-kun có vẻ ngỡ ngàng trước tiện nghi sang trọng của căn hộ. Con bé nhìn tôi vẻ ganh tị.
“Zhe-zhong, anh sống ở đây sao? Thật là tuyệt vời. Cứ như là trong mơ ấy. Anh có điều hòa, vô tuyến và phục vụ tại phòng nữa.”
Yu Wei cố nhịn để không phá lên cười. Hành vi của anh ta khiến tôi khó chịu.
“Yu Wei, em gái tôi không phải loại rẻ tiền đâu đấy. Anh phải trả trước một nghìn tệ đấy!”
Yu Wei không phản đối, đưa cuộn tiền lúc nãy cho em gái tôi. Đó là tiền anh ta lấy cắp trong két sắt của Lou -zhen. Tôi không biết phải làm gì với nên để cuộn tiền lại trên bàn. Nếu Lou-zhen buộc tội tôi ăn cắp tiền thì rắc rối to. Trong lúc Yu Wei đi vào phòng ngủ bật điều hòa thì Mei-kun thì thào, “Chúng ta sẽ bỏ trốn trong lúc anh ta tắm. Hãy chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng nhé Zhe-zhong.”
Mei-kun cầm tay Yu Wei và cùng anh ta biến vào phòng ngủ. Tôi có thể nghe thấy tiếng vòi hoa sen. Tôi bồn chồn đứng ngồi không yên. Tôi không tài nào tĩnh tâm được. Bất chợt Mei-kun chạy ra khỏi phòng.
“Zhe-zhong, đi thôi.”
Tôi cầm lấy tay con bé và chạy ra khỏi căn hộ khách sạn.
Trong hành lang, con bé bắt đầu phá lên cười, “Ôi, thật là tuyệt!” Nhưng tôi quá lo lắng không cười theo nổi.
Khi đã vào được thang máy tôi mới rú lên vì đột nhiên nhớ ra mình đã bỏ quên chiếc áo thun màu hồng mua cho Mei-kun. Nhưng con bé lúc này chỉ quan tâm tới tiền.
“Ôi trời, em chua bao giờ kiềm được bằng này tiền.”
Con bé giơ tiền ra trước mặt tôi. Đó là số tiền tôi để lại trên bàn.
“Sao em lại lấy chúng? Đấy không phải là tiền của Yu Wei đâu!”
“Đừng có ngốc thế. Không có tiền thì làm sao chạy trốn được.”
Mei -kun nói rồi nhét tiền vào túi xách.
“Anh thế là thành án rồi!”
Nhưng Mei-kun chẳng thèm để ý. Trong bốn tháng ngắn ngủi kể từ khi chia tay ở ga Quảng Châu, em gái tôi đã hoàn toàn thay đổi. Tôi ngắm khuôn mặt Mei-kun, gương mặt đứa em gái mà tôi vô cùng yêu quý. Cái mũi hơi hếch. Đôi môi hơi cong trên một khuôn mặt bầu bĩnh, dễ thương. Tôi những muốn ôm lấy cơ thể mảnh mai của nó. Con bé quá đẹp nhưng trái tim nó quá đen tối.
Tôi chắc chắn rằng chạy trốn với tiền của Lou-zhen, tôi như bị đóng dấu phạm tội vào lưng. Lòng tôi nặng trĩu. Ở một khía cạnh nào đó, chiếc áo thun màu hồng mà tôi bỏ quên lại chính là hình ảnh tưởng tượng cho những gì đã xảy ra với tôi. Đó là sự ngây thơ trong sáng của tôi và Mei-kun trước đây. Tôi đã bỏ nó lại trong căn phòng của Lou-zhen. Và tôi sẽ sống đời này mà không cách nào giành lại được.
Trong lúc chạy qua sảnh, tôi nhìn thấy một người đàn ông mặc sơ mi Hawaii đang ngồi hút thuốc trên ghế sô pha. Hắn ta giật mình nhìn lên khi nghe thấy tiếng bước chân của chúng tôi. Đó là Jin-long. Hắn ta đeo kính râm nhưng tôi đã nhận không lầm người. Hắn ta bật dậy đuổi theo chúng tôi. Taxi! Tôi lập tức gọi một người gác cổng. Và thế là chúng tôi chạy trốn khỏi Quảng Châu một cách tuyệt vọng.
Thôi được, thanh tra Takahashi vừa nhắc nhở tôi đừng viết quá nhiều chi tiết dư thừa. Tôi được cho cơ hội quý báu này để viết về tội ác mà tôi phạm phải. Tôi đã giết một người phụ nữ mà thậm chí tôi không quen biết và tôi sẽ phải ghi lại cái hành động ngu ngốc đó ra đây. Nhưng tôi lại nói mãi về cái tuổi niên thiếu vớ vẩn của mình và tất cả những việc làm đáng hổ thẹn mà tôi đã dự phần. Tôi xin lỗi ngài, thanh tra Takahashi và Quý tòa vì đã bắt các ngài đọc những dòng lảm nhảm trên.
Tuy nhiên, tôi viết về cuộc sống trước đây ở quê nhà để các ngài có thể hiểu được tất cả những gì tôi hằng mong muốn chỉ là một cơ hội được kiếm tiền trong sạch, để có thể sống một cách tự lập và thoải mái mà không cần phải làm điều gì sai trái. Thế nhưng giờ đây tôi đang ở trong tù, ngày nào cũng bị cảnh sát tra khảo và thậm chí còn mang một nỗi ô nhục vì bị cho là nghi phạm giết hại Kazue Sato. Tôi không dính dáng gì đến cái chết của cô ấy. Tôi đã nhiều lần khẳng định điều này. Nhưng hãy để tôi nhắc lại thêm một lần nữa: Tôi hoàn toàn không liên quan gì đến vụ giết hại Kazue Sato. Tôi không biết gì về cô ấy nên tôi không thể viết gì về cô ấy ở đây. Thanh tra Takahashi bảo tôi chỉ viết về những gì liên quan tới tội ác mà ta đang nói tới nên tôi muốn nhanh chóng hoàn tất lời khai của mình.
Cần phải có giấy phép để vào được đặc khu kinh tế Thẩm Quyến mà chúng tôi thì chẳng có gì trong tay. Thế nên chúng tôi quyết định đến thành phố Đông Quan, một thành phố nhỏ gần đó, để tìm việc. Vì là vùng cận biên nên Đông Quan là một thành phố khá hưng thịnh, nơi để những người làm việc ở Thẩm Quyến ném tiền qua cửa sổ. Cũng buồn cười vì những người Trung Quốc sống ở Hồng Kông thì thấy giá cả ở Thẩm Quyến rẻ hơn nên tới đó để mua sắm và giải trí. Còn người ở Thẩm Quyến thì lại đến Đông Quan để tiêu tiền. Mei-kun tìm được việc trông trẻ cho những người phụ nữ làm việc ở quán bar còn tôi làm việc ở một nhà máy đồ hộp.
Tôi cho rằng đó là quãng thời gian hạnh phúc nhất trong đời mình. Hai chúng tôi sống hòa thuận, giúp đỡ nhau như một cặp vợ chồng và sau gần hai năm lao động vất vả chúng tôi dành đủ tiền để mua giấy phép tới Thẩm Quyến. Chúng tôi chuyển tới Thẩm Quyến vào năm 1991 và tìm được việc làm tại câu lại bộ karaoke lớn nhất ở Thẩm Quyến. Mei-kun làm tiếp viên phục vụ còn tôi làm trợ lý cho người quản lý. Mei-kun chính là người giúp tôi xin được công việc này. Khi người ta mời Mei-kun đi làm, con bé nói sẽ chỉ nhận lời nếu người ta thuê cả tôi. Tôi không khoái việc con bé làm tiếp viên. Tôi lo lắng, sợ môi trường này dễ khiến con bé trượt chân vào nghề cũ. Mei-kun thì lại sợ tôi phải lòng một trong những cô gái làm việc trong câu lạc bộ. Thế nên chúng tôi vừa làm việc vừa canh chừng nhau, đúng là một mối quan hệ anh trai em gái không bình thường.
Tại sao tôi lại tới Nhật? Tôi vẫn thường tự hỏi. Em gái tôi là người quyết định số phận tôi. Thành thực mà nói tôi đã luôn muốn được đi Mỹ. Nhưng Mei-kun kịch liệt phản đối chuyện đó. Ở Mỹ, công nhân Trung Quốc bị bóc lột và chỉ được trả khoảng một đô la mỗi ngày. Nhưng ở Nhật, chúng ta có thể dành được nhiều tiền hơn để dành dụm sau này tới Mỹ. Những lý lẽ đầy logic của Mei-kun luôn chiến thắng thói do dự không quyết đoán của tôi. Tôi không đồng ý với con bé như thường lệ, tôi không đủ can đảm chống lại nó.
Thế rồi một chuyện đã xảy ra khiến tôi đổi ý và quyết định sang Nhật sớm hơn dự định. Một hôm, chủ câu lạc bộ gọi tôi lên hỏi.
“Có một người đàn ông từ Quảng Châu tới hỏi thăm một người họ Zhang, quê ở Tứ Xuyên. Có vẻ như anh ta đang dò hỏi ở khắp mọi nơi. Có phải cậu là người anh ta đang tìm không?”
“Có rất nhiều người Tứ Xuyên mang họ Zhang.”, tôi trả lời thản nhiên không hề chớp mắt. “Thế anh ta muốn gì?”
“Anh ta nói có gì đó liên quan đến Thiên An Môn. Có vẻ như anh ta còn trao phần thưởng cho ai tìm thấy!”
“Trông anh ta thế nào?”
“Anh ta đi cùng với một người phụ nữ. Trông dáng vẻ chả tử tế gì còn người phụ nữ thì có đôi mắt ti hí.”
Chủ câu lạc bộ, một người vốn không thích rắc rối, nhìn tôi vẻ nghi ngờ. Lou-zhen đã cử Yu Wei và Bai Jie đi tìm chúng tôi. Tôi cảm thấy mặt mình không còn giọt máu nào và phải cố gắng lắm mới giữ được bình tĩnh. Nếu chúng treo phần thưởng thì chẳng mấy chốc ai đó sẽ bán đứng chúng tôi. Tất cả mọi người ở Thẩm Quyến đều chạy theo đồng tiền.
Tối hôm đó khi trở về nhà, tôi bàn bạc với Mei-kun. Con bé nhướn mày bảo. “Zhe-zhong, thật ra có chuyện này em chưa nói với anh. Hôm nọ em nhìn thấy một gã trước cửa ga trông giống hệt như Jin-long. Em sợ rằng không sớm thì muộn hắn sẽ tìm đến câu lạc bộ. Có lẽ là vận may của chúng ta đã hết.”
Câu lạc bộ karaoke chúng tôi làm việc rất nổi tiếng và đắt, vốn không phải là nơi dân địa phương lui tới. Phần lớn khách hàng ở đây đến từ Hồng Kông hay Nhật Bản. Tôi không nghĩ sẽ chạm trán với Jin-long ở đây. Nhưng Thẩm Quyến cũng không phải là quá lớn nên chẳng chóng thì chày chúng tôi cũng sẽ đụng đầu với hắn. Mọi chuyện bắt đầu trở nên nguy hiểm nếu chúng tôi ở lại đây.
Hôm sau tôi bắt đầu đi tìm một tên dẫn mối để dẫn chúng tôi vượt biên sang Nhật. Chúng tôi có thể tới Thượng Hải và trả tiền cho các tay anh chị khác để xử lý Jin-long. Nhưng Lou-zhen thì không được. Em trai của bà ta ở Thượng Hải và chả mấy ai muốn dây dưa vào mạng lưới chính quyền mà bà ta ảnh hưởng. Sẽ không dễ dàng chút nào. Đúng lúc đó thì một tiếp viên người Xương Lạc, Phúc Kiến, bảo tôi về một tên dẫn mối mà cô ta biết. Tôi gọi hắn ta ngay lập tức và đề nghị hắn ta đưa chúng tôi sang Nhật.
Tên dẫn mối muốn chũng tôi trả trước một triệu để làm hai hộ chiếu giả. Số tiền còn lại sẽ trả nốt khi tới Nhật và kiếm được được việc làm, thêm hai triệu tệ mỗi người. Tổng cộng là năm triệu tệ. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Từ khi biết mình bị săn đuổi tôi liên tục ngoái lại đằng sau cứ như người có tật ở cổ.
Mồng chín tháng Hai 1992: Chừng nào còn sống tôi sẽ không thể quên được cái ngày hôm đó. Đó là ngày chúng tôi vượt biển sang Nhật. Thật là trùng hợp một cách ngẫu nhiên khi đúng ngày này ba năm về trước, hai chúng tôi bỏ trốn khỏi làng. Chỉ có những người nhập cư vào đất nước này bằng con đường đó mới có thể hiểu nổi nỗi hiểm nguy mà tôi và những người đồng hương phải đối mặt. Và khi nghĩ đến cái chết của em gái tôi, lòng tôi lại ngập tràn cay đắng. Tôi không muốn nhắc lại chuyện này với bất cứ ai nên tôi sẽ trình bày ngắn gọn, không đi sâu vào chi tiết.
Trên tàu có bốn mươi chín người. Phần lớn đều là thanh niên xuất thân Phúc Kiến. Cũng có một số phụ nữ trạc tuổi Mei-kun. Tôi nghĩ là họ đều đã có chồng, căn cứ vào cái cách họ ngồi nép vào người đồng hành nam giới, mắt cụp xuống. Họ đang phải đối mặt với nỗi sợ hãi về hành trình vượt biển đầy cam go nhưng nhất quyết không muốn trở thành gánh nặng cho chồng. Nhưng Mei-kun thì không hề lo lắng. Con bé lấy tấm hộ chiếu màu nâu ra xem đi xem lại nhiều lần và vuốt ve nó với vẻ sung sướng. Con bé không nghĩ có ngày lại được cầm một tấm hộ chiếu như thế này.
Lúc đầu tất cả chúng tôi được đưa lên một chiếc tàu nhỏ, chỉ là tàu đánh cá bình thường. Chúng tôi ngồi chen chúc hai bên mạn tàu và rời cảng Xương Lạc lúc biển êm ả, thời tiết ấm áp. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Nhưng tới khi ra xa bờ, tới vùng biển sâu thì gió bắt đầu thổi mạnh. Con tàu tròng trành, chao đảo dữ dội vì sóng lớn. Cuối cùng thì chúng tôi cũng tới được một tàu chở hàng lớn. Thuyền trưởng tàu đánh cá đưa cho mỗi người chúng tôi một cái tuốc nơ vítvà bảo chúng tôi lên tàu lớn. Tôi không biết sẽ dùng chiếc tuốc nơ vít ấy vào việc gì cho tới khi leo được lên boong tàu.
Khi tất cả mọi người lên được tới nơi, người ta dẫn chúng tôi tới một container hẹp bằng gỗ. Họ đóng nó chặt khít tới mức nhìn bên ngoài không ai bảo là có người bên trong. Bên trong container tối như hũ nút. Với bốn mươi chín người lèn vào một chỗ chật chội như vậy, không khí trở nên đặc quánh và hôi hám.
“Hãy dùng tuốc nơ vít chọc các lỗ ở bên cạnh”, Tôi nghe thấy tiếng ai đó hét lên. Khắp nơi xung quanh tôi vang lên những tiếng nện đục khủng khiếp khi ai cũng cố chọc cho mình một lỗ thông khí ở bên cạnh của container. Đến lượt mình, tôi dùng hết sức để chọc một lỗ, nhưng dù cố gắng thế nào đi nữa tôi cũng chỉ xoay xở khoét được một lỗ bé tí khoảng vài mi li mét. Tôi nhét miệng vào cái lỗ đó và hít thở không khí trong lành bên ngoài. Tôi sẽ không chết. Dần dần nỗi hoảng sợ vì nguy cơ bị chết ngạt biến mất. Nhưng chẳng bao lâu, chúng tôi bị bao bọc bởi mùi hôi thối. Vì lúc đầu chúng tôi còn để dành một góc để đi vệ sinh nhưng tới ngày thứ hai thì gần như toàn bộ sàn container đã ngập ngụa phân và nước tiểu. Mei-kun, người bắt đầu chuyến đi với tâm trạng đầy phấn khích, giờ đã trở nên lầm lì. Con bé đeo lấy tay tôi và không chịu bỏ ra. Mei-kun bắt đầu mắc chứng bệnh sợ không gian hẹp.
Vào ngày thứ tư của hành trình, động cơ của tàu dừng lại. Chúng tôi có thể nghe thấy thủy thủ đoàn bận rộn đi lại trên boong. Chúng tôi vừa tới Đài Loan. Nhưng không ai nói gì với chúng tôi nên tôi cứ tưởng đã tới Nhật.
Mei-kun lúc này đang dựa vào tôi như keo dán, buồn nôn vì say sóng cộng thêm chứng sợ không gian hẹp đột ngột ngồi dậy túm chặt lấy áo khoác của tôi.
“Chúng ta đang ở Nhật rồi à?”
“Có thể.”
Tôi không biết nên chỉ nhún vai tỏ vẻ không chắc. Nhưng Mei-kun đứng bật dậy và cuống cuồng chải đầu, không giấu nổi vui mừng. Nếu trong container mà có ánh sáng, chắc con bé sẽ bắt tay vào trang điểm. Nhưng suốt một ngày, con tàu vẫn neo tại chỗ. Không có ai tới tìm chúng tôi. Mei-kun không thể nào ngồi yên một chỗ. Con bé liên tục đứng dậy rờ tay lên thành container và đập điên cuồng vào đó bằng lòng bàn tay.
“Thả tôi ra!”
Một trong những người đàn ông quê Phúc Kiến đang ngồi xổm trong bóng tối thì thầm bảo tôi, giọng khàn khàn, “Anh cần phải làm cho cô ấy bình tĩnh trở lại. Đây mới chỉ là Đài Loan mà thôi.”
Nghe thấy hai từ Đài Loan, Mei-kun như phát điên. “Nếu là Đài Loan tôi cũng kệ. Tôi phải đi ra ngoài. Tôi không thể chịu đựng thêm được nữa! Có ai đó không, giúp tôi với!” Con bé bắt đầu đập ầm ầm vào thành container và la hét điên cuồng.
“Này, làm gì với mụ đàn bà của anh đi chứ. Nếu họ nghe thấy cô ta thì tất cả chúng ta sẽ đi đời nhà ma.”
Đáng lẽ tôi nên nhẹ nhàng hơn nhưng bốn mươi bảy đôi mắt trừng trừng sau lưng khiến tôi đành phải dang tay quất mạnh vào mặt Mei-kun cho con bé im mồm. Ngay khi bị đánh, Mei-kun đổ sập xuống như một con rối bị giật mất dây. Con bé ngã xuống sàn container bẩn thỉu, ngập ngụa và đồ nôn trớ rồi nằm đó, mắt ngửa lên, mắt trừng trừng nhìn vào bóng tối. Tôi thấy lo lắng khi con bé không động đậy nhưng tôi không thể cho phép Mei-kun đe dọa mạng sống của tất cả mọi người khác trong container. Chừng nào con bé còn im lặng thì tốt nhất là cứ để kệ con bé nằm đấy. Sau này, nhớ lại tấn bi kịch khủng khiếp đó, tôi không thể tin rằng có lẽ chính tôi đã kết thúc cuộc đời của Mei-kun với cái tát ngang mặt đó. Không, không phải Mei-kun. Nó là một người mạnh mẽ và quyết đoán hơn nhiều.
Ngày hôm sau, cuối cùng con tàu cũng chịu rời khỏi Đài Loan. Nó chậm chạp rẽ biển trong cơn thịnh nộ mùa đông để tới Nhật Bản. Mei-kun vẫn nằm nguyên chỗ đó, như một kẻ bán thân bất toại, không ăn cũng không nói gì. Tới ngày thứ sáu thì họ mở container ra. Không khí ngoài biển lạnh lẽo, gần như băng giá. Nhưng sau khi bị nhốt kín trong không gian hối thối của container, tôi cảm thấy nó thật tinh khiết, tuyệt vời. Tôi hít đầy không khí vào trong lồng ngực. Mei-kun loạng choạng tự đứng dậy một mình. Con bé nhìn tôi mỉm cười yếu ớt và bảo, “Thật là khủng khiếp.”
Hàng triệu lần tôi cũng không tin rằng đó là những lời cuối cùng của Mei-kun. Nhưng chỉ chưa đầy hai mươi phút sau khi chúng tôi trèo xuống một thuyền nhỏ chở chúng tôi vào bờ trong bóng đêm thì tai nạn xảy ra. Vì một lý do nào đó mà cái giây phút khi Mei-kun đặt chân lên tàu thì đại dương đang yên ả nãy giờ bỗng nhiên nổi song lớn. Mei-kun rơi xuống nước mà không ai kịp chìa tay ra giữ. Tôi lên tàu trước con bé và cố túm lấy tay nó nhưng mọi chuyện xảy ra quá nhanh. Tôi chìa tay ra nhưng chỉ chạm vào không khí. Khi rơi xuống biển, Mei-kun chỉ kịp ngước nhìn tôi với một vẻ hụt hẫng rồi biến mất trong sóng nước. Tay con bé quẫy một lúc như vẫy chào tạm biệt, còn tôi chỉ biết đứng nhìn trong cơn mê sảng. Ngay cả muốn cứu con bé, tôi cũng không biết bơi. Tôi hét gọi tên nó. Nhưng không ai có thể làm gì được. Chúng tôi chỉ biết đứng nhìn xuống mặt nước tối đen. Em gái thân yêu của tôi đã chết dưới biển mùa đông lạnh lẽo khi nước Nhật mà nó khao khát đang ở ngay trước mắt.
Câu chuyện dài, lủng củng của tôi đã sắp tới hồi kết. Xin ngài thanh tra Takahashi chiếu cố tới tôi mà đọc cho hết. Thanh tra Takahashi đã đặt tiêu đề cho bản tự trạng này là “Những tội ác của tôi” và chỉ thị cho tôi nhớ lại những hành vi sai trái của mình bằng cách viết về thời niên thiếu và tất cả lỗi lầm trong quá khứ. Giờ đây, khi làm sống lại tất cả những hồi ức trước kia, tôi không khỏi nghẹn ngào vì hối hận. Tôi thực sự là một kẻ đáng khinh bỉ. Tôi đã không thể cứu Mei-kun, đã giết hại Yuriko Hirata mà vẫn tiếp tục sống như không có chuyện gì xảy ra. Tôi những mong quay ngược lại thời gian và làm lại từ đầu. Một lần nữa được trở lại làm cậu bé khi xưa sống bên cạnh em gái nhỏ. Tương lai mới xán lạn và đầy hứa hẹn làm sao! Thế mà giờ đây tôi chẳng có gì ngoài tội ác này. Một tội ác khủng khiếp mà chỉ có loài cầm thú mới có thể phạm phải. Tôi đã giết hại người phụ nữ đầu tiên tôi gặp ở đất nước xa lạ này. Tôi tin rằng việc tôi trở thành một kẻ độc ác như vậy là vì tôi đã đánh mất Mei-kun, linh hồn của tôi.
Với thân phận nhập cư bất hợp pháp, tôi sống trên nước Nhật như một con mèo hoang, chủi lủi nay đây mai đó, lúc nào cũng sợ bị người khác để ý. Người Trung Quốc vốn quen sống cộng đồng, gần nhà và dựa vào gia đình. Nhưng tôi ở đây, cách quê hương và gia đình hàng trăm cây số. Tôi không có ai giúp tìm việc hay chỗ ở, tôi tự phải làm tất cả. Và khi mất đi em gái, tôi chẳng còn ai để an ủi, động viên. Sau ba năm làm việc cực nhọc, cuối cùng tôi cũng trả hết nợ cho bọn dẫn mối. Nhưng rồi tôi chẳng còn mục đích nào để phấn đấu trong cuộc sống, thậm chí tôi mất cả động cơ để dành tiền. Phần lớn những người đàn ông khác mà tôi biết đều có vợ con ở Trung Quốc nên họ làm việc để gửi tiền về nhà. Tôi thấy ghen tị với họ.
Vào thời điểm đó, tôi gặp một phụ nữ Đài Loan làm việc ở đường Kabuki. Tôi vừa viết là Hirata là người phụ nữ đầu tiên tôi gặp ở Nhật nhưng thật ra trước đó, tôi đã từng đi xem phim Đất vàng với người phụ nữ Đài Loan này. Bà ta lớn hơn tôi mười tuổi và có hai con ở Cao Hùng. Trong thời gian làm má mì ở một hộp đêm, bà ta đi học tiếng Nhật và dành dụm tiền gửi về cho hai đứa con. Bà ta là một người rất tử tế, đã chăm lo cho tôi mỗi khi tôi lâm vào cảnh tuyệt vọng.
Nhưng cho dù một người có tốt bụng tới đâu, nếu không sinh ra trong cùng một hoàn cảnh với anh thì sẽ không thực sự hiểu được cảm nhận của anh. Bà ấy không thể nào hiểu nổi cái cảm giác sinh ra trong một làng quê nghèo khó, chịu kiếp lao động nhọc nhằn rồi mất đi người em gái là như thế nào. Điều đó khiến tôi trăn trở, và cuối cùng tôi rời xa bà ấy. Đó là lúc tôi đặt quyết tâm đi Mỹ.
Một kẻ vô gia cư thì cũng lại sống kiếp đơn độc. Tuy tôi có ở chung với nhiều người khác trong căn hộ ở Shinsen nhưng tất cả chúng tôi đều là những kẻ cô độc. Thậm chí tôi còn không biết Chen - ji và Huang là tội phạm cho tới khi thanh tra Takahashi bảo tôi. Nếu tôi biết họ là tội phạm thì tôi hẳn không muốn quan hệ gì với họ. Tôi bắt đầu bất hòa với họ vì tôi đang âm thầm chuẩn bi kế hoạch đi New York. Đó không chỉ đơn thuần là những bất đồng về tiền bạc.
Thanh tra Takahashi chỉ trích tôi về việc bóc lột tiền thuê nhà từ những người khác. Nhưng chính tôi là người đứng ra chịu trách nhiệm thuê lại căn hộ của Chen. Tôi phải đảm bảo căn hộ ngăn nắp, sạch sẽ, và là người thanh toán phí điện, nước v.v… Việc họ phải trả thêm tiền là hoàn toàn hợp lý. Các ngài nghĩ ai là người cọ toa lét. Ai là người đổ rác? Chính tôi là người làm tất cả những việc đó, kể cả việc phơi chăn chiếu.
Bị phản bội bởi những người ở cùng khiến tôi rất đau lòng, nhất là Huang. Tất cả những gì anh ta nói chỉ đều là dối trá. Rằng tôi đã quen biết Sato từ lâu, rằng ba chúng tôi có quan hệ với nhau. Toàn là những lời nói dối trắng trợn. Anh ta hẳn có lý do khi cố tình đổ tội cho tôi. Xin các ngài hãy nghĩ tới điều này, thanh tra Takahashi và Quý tòa. Tôi cầu xin các ngài. Tôi biết tôi đã nhắc đi nhắc lại chuyện này nhiều lần nhưng quả thật tôi chưa bao giờ gặp Kazue Sato. Lời buộc tội này là không có cơ sở.
Khi tôi gặp Yuriko Hirata, bất hạnh đã đổ xuống đầu cả hai chúng tôi. Tôi nghe thanh tra Takahashi nói cô Hirata từng có thời gian làm nghề người mẫu và rất xinh đẹp. Thanh tra Takahashi cũng nhắc đi nhắc lại rằng “khi trở nên già và xấu đi, cô ta đã trở thành gái đứng đường rẻ tiền.” Nhưng tôi nghĩ là cô ấy vẫn rất đẹp.
Lần đầu tiên nhìn thấy cô ấy ở đường Kabuki, tôi đã bị lôi cuốn bởi sắc đẹp và sự trẻ trung của cô ấy. Tôi không thèm để ý đến lúc đó đã muộn như thế nào. Đêm đó, khi rời khỏi Futamomokko, tôi cố tình đi vòng qua Kabuki để về nhà. Khi nhìn thấy cô Hirata vẫn đứng đó trong mưa để chờ tôi thì tôi vô cùng sung sướng. Cô ấy nhìn tôi, mỉm cười rụt rè và bảo, “Tôi sắp chết cóng vì đứng đây chờ anh!”
Tôi vẫn nhớ như in cái đêm mưa đó. Cô Hirata cầm một cái ô, mái tóc màu đen xõa xuống lưng, tới gần eo trông giống hệt như Mei-kun. Tim tôi bắt đầu đập rộn rã. Khuôn mặt của cô ấy nữa, trông giống hệt như Mei-kun. Đó là lý do chính khiến tôi bị thu hút bởi cô ấy. Tôi không ngừng tìm kiếm Mei-kun. Những người xung quanh lúc nào cũng bảo, “Em gái cậu chết rồi. Hãy quên nó đi!” Nhưng tôi không thể nào ngừng mơ tưởng rằng con bé vẫn còn đâu đó trên đời này và sớm muộn tôi sẽ gặp lại nó.
Đành là con bé đã biến mất dưới biển đêm hôm ấy. Nhưng nếu có một tàu đánh cá đi qua và cứu sống nó thì sao? Có thể con bé vẫn đang còn sống. Hay nó đã bơi tới một hòn đảo gần đó? Tôi vẫn ấp ủ hy vọng đó. Mei-kun lớn lên ở miền núi giống tôi nên không biết bơi. Nhưng đó là một đứa con gái mạnh mẽ và tài giỏi. Tôi vẫn nhớ đã tình cờ gặp nó tại một bể bơi ở Quảng Châu như thế nào. “Zhe-zhong!” Con bé gọi tôi, mắt chan chứa lệ. Và thế là tôi lại tiếp tục đi loanh quanh trên khắp các đường phố, hy vọng và mong chờ sẽ gặp lại nó.
Gặp tôi lần đầu tiên, cô Hirata đã khen. “Anh có một khuôn mặt đẹp.” Và tôi trả lời, “Cô trông giống hệt em gái tôi. Cả hai người đều rất xinh đẹp.”
“Em gái anh bao nhiêu tuổi?” cô Hirata hỏi khi đi bên cạnh tôi. Cô ấy vứt điếu thuốc đang hút dở vào một vũng nước và quay sang nhìn tôi. Tôi nhìn thẳng vào mặt cô ấy. Không, rốt cuộc cô ấy không phải là Mei-kun. Tôi đâm ra thất vọng.
“Cô ấy chết rồi.”
“Chết ư?”
Vai cô ấy rung rung. Trông cô ấy buồn tới mức khiến tôi thấy mủi lòng. Cô ấy có vẻ là người mà tôi có thể giãi bày. Và rồi cô ấy bảo, “Tôi rất muốn nghe chuyện của anh. Tôi ở rất gần đây. Sao chúng ta không về đó và uống vài ly bia?”
Thanh tra Takahashi bảo tôi đó là những điều mà các cô gái điếm vẫn thường nói. Ông ấy không tin vào lời khai của tôi. Nhưng quả thật khi nhìn thấy cô Hirata, tôi đã không nghĩ đó là một gái điếm, mà là một người trông giống như em gái tôi thì đúng hơn. Tôi nghĩ việc cô Hirata tự bỏ tiền ra mua bia và đậu phộng ở cửa hàng tạp hóa chứng tỏ là tôi có lý, không phải vậy sao? Tôi nghĩ cô Hirata cũng có hứng thú với tôi. Dĩ nhiên là chúng tôi vẫn thỏa thuận về giá cả. Nhưng cô ấy đã đồng ý hạ giá từ 30.000 yen xuống còn 15.000 yen, chứng tỏ cô ấy cũng thích tôi.
Ngay khi về tới căn hộ của mình ở Okubo, cô ấy quay sang tôi và hỏi, “Thế anh muốn tôi làm gì nào? Chúng ta sẽ làm bất cứ thứ gì anh muốn, chỉ cần anh nói cho tôi biết.”
Tôi bảo cô ấy những gì mà tôi vẫn thầm nhắc đi nhắc lại trong lòng bấy lâu nay. “Tôi muốn cô nhìn tôi, mắt đầy lệ và gọi to, “Anh ơi!”
Cô Hirata làm như tôi bảo. Tôi vươn ra mà ôm chầm lấy cô ấy mà không nghĩ ngợi gì.
“Mei-kun! Anh mong được gặp em xiết bao!”
Trong khi tôi và cô Hirata quan hệ, tôi trở nên vô cùng phấn khích. Tôi cho rằng điều đó là sai trái. Nhưng nó khẳng định một điều, tôi đã không yêu Mei-kun như một người em gái mà như một người phụ nữ. Và tôi chợt nhận ra rằng đó chính là điều mà chúng tôi muốn làm khi cô ấy còn sống. Cô Hirata là một người rất nhạy cảm. Cô ấy ngước nhìn tôi và hỏi, “Thế anh muốn tôi làm gì nữa?”. Tôi như phát cuồng. “Hãy nói ‘Thật là khủng khiếp’ và nhìn tôi.”
Tôi dạy cô ấy nói những từ đó bằng tiếng Trung. Cô ấy phát âm rất chuẩn. Nhưng điều làm tôi thực sự bất ngờ là những dòng nước mắt thực sự bắt đầu ứa ra từ đôi mắt của cô ấy. Tôi nhận ra rằng cái từ khủng khiếp ấy đã cộng hưởng với một nỗi niềm nào đó trong lòng cô Hirata. Chúng tôi ôm lấy nhau và cùng khóc trên giường của cô ấy. Chân thành, tôi không hề muốn giết hại cô ấy, hoàn toàn không. Tuy chúng tôi khác nhau về nòi giống, về văn hóa nhưng tôi cảm thấy chúng tôi rất hiểu nhau. Những thứ mà tôi không thể nào trao đổi với người phụ nữ Đài Loan tôi có thể làm với cô Hirata dù chỉ mới gặp cô ấy. Thật là tuyệt vời. Cô Hirata dường như cũng chia sẻ cảm giác đó của tôi vì nước mắt bắt đầu lăn trên má cô ấy khi tôi ôm cô ấy vào lòng. Rồi cô ấy gỡ sợi dây chuyền vàng trên cổ xuống và đeo nó cho tôi. Tôi không biết tại sao cô ấy lại làm vậy.
Vậy thì tại sao tôi lại giết cô ấy? Các ngài sẽ hỏi vậy. Tôi thậm chí cũng không hiểu nổi mình nữa. Có lẽ bởi vì cô ấy đột ngột lôi tuột mái tóc giả xuống, thản nhiên như người ta cởi một chiếc mũ. Mái tóc thật của cô ấy có màu hung lấm tấm sợi bạc. Cô Hirata là một người nước ngoài, chả có tí gì giống Mei-kun cả.
“Thôi được rồi, trò chơi đã tới hồi kết.”
Cô ấy trở nên hết sức lạnh lùng. Tôi thực sự choáng váng.
“Tất cả chỉ là một trò chơi thôi sao?”
“Thế anh nghĩ sao? Đó là cách tôi kiếm sống. Giờ đến lượt anh phải trả tiền.
Tôi thấy lạnh toát cả sống lưng. Tôi rút tiền ra khỏi túi. Mọi chuyện bắt đầu từ đấy. Cô Hirata bảo tôi phải đưa hết tiền cho cô ấy, cả thảy là 20.000 yen. Khi tôi hỏi sao cô ấy lại lên giá thì cô ấy bảo tôi vẻ ghê tởm, “Chơi trò loạn luân thì phải trả thêm. 15.000 thì không đủ.”
Loạn luân? Cái từ đó làm tôi nổi điên. Tôi xô cô Hirata xuống trường kỷ.
“Anh làm cái quái gì vậy?”
Cô ấy đứng dậy, lao vào tôi như một con quỷ dữ. Chúng tôi bắt đầu xô đẩy nhau một cách hung bạo.
“Tên khốn rẻ rách! Trời ơi, đáng lẽ tôi không nên ngủ với một thằng Trung Quốc.”
Tôi không nổi giận vì tiền. Tôi nổi giận vì cảm thấy Mei-kun của tôi bị hoen ố. Mei-kun quý giá của tôi. Tôi cho rằng mọi thứ chờ đợi chúng tôi ở phía trước kể từ khi chúng tôi bỏ nhà ra đi chỉ là thảm kịch. Là một giấc mơ không bao giờ đạt được. Giấc mơ không thành ấy đã dễ dàng trở thành một cơn ác mộng. Nước Nhật mà Mei-kun vẫn khao khát được nhìn thấy. Thật tàn nhẫn biết bao. Tôi vẫn phải sống. Tôi phải tiếp tục sống trên một đất nước mà Mei-kun chưa bao giờ đặt chân tới. Điều đó giúp tôi nuôi hy vọng tìm được một người phụ nữ giống như Mei-kun. Cuối cùng khi tôi tìm thấy thì tất cả những gì cô ấy muốn chỉ là đóng kịch vì tiền. Sao tôi lại ngu muội tới mức không nhận ra điều đó. Tôi cảm thấy như bị cuốn đi bởi một cơn lũ quét, không kịp hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra. Khi tỉnh táo trở lại tôi nhận ra rằng tôi đã siết cổ cô Hirata. Tôi đã không giết hại cô ấy vì tiền. Nhưng tôi đã phạm phải một lỗi lầm mà tôi không bao giờ có thể gỡ lại. Tôi xin dành cả đời còn lại để cầu nguyện cho linh hồn của cô Hirata được an nghỉ.
Zhang Zhe-zhong.