Phần 7. · 2
NGÀY 30 THÁNG NĂM
SHINBUYA: YY, 14.000 YEN
SHINBUYA: WA, 15.000 YEN.
Tôi ngắm bức ảnh cha tôi để trên chiếc piano cũ kỹ. Đó cũng là bức ảnh mà chúng tôi dùng trong tang lễ của ông. Bức ảnh chụp ông đứng trước cơ quan của mình, vẻ mặt nghiêm nghị, phong thái đĩnh đạc, sang trọng trong một bộ vest được cắt may rất khéo. Tôi rất yêu cha mình. Vì sao? Tôi tự hỏi. Có lẽ là vì ông luôn đối xử với tôi như thể tôi là người quan trọng nhất trên đời. Ông cưng chiều tôi hết mực. Chính ông, hơn ai hết là người nhận ra những thế mạnh thực thụ của tôi và cũng vì thế mà sinh tiếc nuối về việc tôi là con gái.
“Kazue là người phụ nữ thông minh nhất trong nhà!” Ông vẫn nói vậy.
“Thế mẹ thì sao ạ?”
“Lấy chồng một cái là mẹ con chả học hành gì nữa, không phải vậy sao? Thậm chí bà ấy còn chả bao giờ buồn đọc báo.”
Cha tôi thì thầm những lời đó vào tai tôi như thể chúng tôi là đồng phạm. Đó là một ngày Chủ nhật, mẹ tôi đang ở trong vườn chăm sóc đám cây cối của bà. Lúc đó tôi là học sinh cấp hai đang luyện thi để thi đầu vào cấp ba.
“Mẹ có đọc báo mà!”
“Chỉ là những trang xã hội và chương trình vô tuyến thôi. Bà ấy chả bao giờ thèm liếc mắt tới các bài viết về kinh tế hay tình hình thời sự. Bởi vì bà ấy chả hiểu gì cả. Kazue, bố nghĩ là con nên làm việc ở một công ty hàng đầu. Con có thể gặp một người đàn ông tài giỏi, một người giúp con phát triển trí tuệ. Mà con cũng chẳng cần phải lấy chồng. Con có thể ở lại nhà này. Con đủ thông minh để vượt trội bất cứ gã đàn ông nào ngoài xã hội.”
Tôi bị thuyết phục rằng những người phụ nữ lấy chồng rồi ở nhà làm nội trợ sẽ trở thành trò cười cho thiên hạ. Tôi muốn tránh chuyện này. Hoặc nếu lấy chồng thì tôi sẽ lấy ai đó tài giỏi hơn để anh ta có thể nhìn nhận tài năng của tôi. Vào thời điểm đó tôi không hiểu rằng không phải lúc nào những người đàn ông thông minh cũng chọn những người phụ nữ tài giỏi. Vì cha mẹ tôi không được hòa hợp lắm nên tôi cứ tưởng rằng đó là vì mẹ tôi không tài giỏi hoặc không bao giờ cố gắng bộc lộ ưu điểm của mình. Bà ấy đối xử với cha tôi đầy tôn trọng và luôn đặt ông ấy lên hàng đầu trước mặt mọi người nhưng sau lưng thì tôi biết bà ấy rất coi thường chồng vì ông vốn xuất thân từ nông thôn.
“Khi bố con lấy mẹ,” bà bảo, “ông ấy thậm chí còn chả biết pho mát là gì. Khi mẹ chuẩn bị bữa sáng, ông ấy lại tưởng mẹ để pho mát bị thiu vì nó nặng mùi và hỏi mẹ đấy là gì. Mẹ không ngờ ông ấy lại thiếu hiểu biết đến vậy.”
Mẹ cười khi kể lại chuyện này, nhưng tiếng cười của bà không giấu nổi sự khinh thường. Mẹ tôi lớn lên ở Tokyo, cha bà, ông nội bà và cả cụ nội bà đều là những quan chức hành chính cao cấp hay luật sư. Trong khi đó cha tôi thì xuất thân từ một thị trấn nhỏ, quê mùa ở tỉnh Wakayama và phấn đấu mãi để vào được Đại học Tokyo. Sau đó ông không có lựa chọn nào khác là phải vào làm kế toán ở một công ty. Cha tôi tự hào vì đã thành công nhờ tài năng của mình. Còn mẹ tôi tự hào vì gốc gác của bà.
Còn tôi thì sao? Sau khi tốt nghiệp đại học Q, tôi vào làm ở một công ty lớn. Tôi gầy gò theo đúng mốt và đàn ông để ý đến tôi. Tôi có mọi thứ, có thể nói là mọi chuyện đều hết sức tuyệt vời. Ban ngày tôi khiến người khác kính trọng mình vì trí tuệ, ban đêm đến lượt cơ thể tôi khiến đàn ông khao khát. Tôi cảm thấy mình như một nữ siêu nhân. Nghĩ đến đây tôi bật cười.
“Kazue! Nhìn xem con đang làm gì này! Con làm đổ hết cà phê ra ngoài rồi!” Tôi nghe tiếng mẹ tôi kêu lên giận dữ. Tôi nhận ra rằng mình đã để cà phê sánh ra khắp nơi. Một vệt ố màu nâu chảy dài trên chiếc váy polyester của tôi. Mẹ tôi nhặt một chiếc giẻ lau và ném nó cho tôi. Tôi cố gắng lau vệt cà phê trên váy nhưng chỉ làm nó lan rộng ra mà thôi. Một khi đã bị dây cà phê thì chả có cách nào lau được. Tôi cầm tới báo ở trên bàn lên và giở ra đọc.
“Con không định đi thay váy sao?” mẹ tôi hỏi không thèm nhìn về phía tôi. Bà bắt đầu dọn dẹp bữa sáng của em gái tôi. Bà luôn chuẩn bị bữa sáng cho nó bao gồm bánh mì nướng, trứng rán và cà phê. Em gái tôi làm việc cho một nhà máy sản xuất nên phải đi làm từ sáng sớm. Còn tôi chỉ phải tới chỗ làm vào lúc chín giờ rưỡi nên thường tôi không phải rời nhà trước tám giờ ba mươi.
“Không ạ. Váy màu xanh hải quân nên cũng chả nhìn rõ.”
Tôi nghe mẹ tôi thở dài một cách vô cùng ngao ngán nên ngẩng đầu lên.
“Sao hả mẹ?”
“Mẹ chỉ nghĩ con nên quan tâm tới vẻ ngoài của mình một tí. Con đã mặc cái bộ này bao nhiêu ngày rồi?”
Nhận xét của bà khiến tôi bực mình. “Mẹ nghe này, con đủ lớn để tự mặc quần áo của mình nên mẹ đừng có tham gia chuyện của con, được không?”
Mẹ tôi im lặng một lúc nhưng rồi lại tiếp tục mở máy.
“Mẹ không muốn gây sự lúc này nhưng có chuyện mẹ phải nói với còn bằng được. Dạo này con về nhà rất muộn. Con đang làm gì vậy? Trang điểm dày cộp lên, người thì ngày càng tong teo, mẹ tự hỏi không biết con có ăn uống tử tế không nữa?”
“Thì con đang ăn đây!”
Tôi nhai một viên Gymnema và nuốt trôi bằng một ngụm cà phê. Gymnema là một sản phẩm giảm cân thông dụng. Nó được chiết xuất từ các sản phẩm tự nhiên và giúp đánh tan các tế bào mỡ trong cơ thể. Tôi mua một lọ ở siêu thị và uống thay vì ăn sáng.
“Đấy là thuốc chứ không phải thức ăn. Con sẽ ốm mất thôi nếu không ăn uống tử tế.”
“Nếu con ốm thì sẽ không có ai kiếm tiền chứ gì?”
Mẹ tôi bắt đầu trông giống như một bà già lắm điều. Tóc bà thưa dần và khuôn mặt bà trông giống như một con cá thờn bơn với hai đôi mắt cách nhau quá xa. Nghe tôi nói thế bà lại thở dài rồi bảo, “Con thực sự đã trở thành một con quái vật. Thật là đáng sợ.”
Rồi bà chỉ lên những vệt bầm tím trên cổ tay tôi. “Có phải con lại làm chuyện quái quỷ gì không?”
“Ôi chết, con phải đi đây!”
Tôi nhìn đồng hồ và nhảy khỏi ghế. Tôi đập tờ báo xuống bàn. Mẹ tôi lấy tay bịt hai tai lại và nhìn tôi giận dữ.
“Ồn đến thế cơ à?” tôi hét lên. “Ít nhất mẹ cũng phải chiều con một tí chứ? Mẹ sống nhờ lương của con đấy, không đúng sao? Sao mẹ có thể nghĩ rằng mẹ còn quyền bảo con phải làm gì?”
“Sao lại không?”
“Vì con sẽ làm bất cứ cái quái gì mà con muốn và mẹ chả có quyền gì cả.”
Tôi cảm thấy nhẹ cả người sau khi nói ra được điều này. Trước đây khi mới vào làm việc tại công ty của cha tôi, tôi đã rất tự hào vì có thể chu cấp cho mẹ và em gái. Nhưng giờ việc đó đã trở thành gánh nặng thít quanh cổ tôi. Cha tôi bị ngã trong buồng tắm. Nếu chúng tôi phát hiện ra kịp thời thì đã có thể cứu được ông ấy. Tôi không thể nào không thầm trách mẹ tôi. Lúc đó bà ấy cũng ở nhà nhưng bà ấy lại đi ngủ. Tôi không thể nào loại ra khỏi đầu ý nghĩ rằng mẹ tôi phần nào đó có lỗi trong chuyện này.
Sau cái chết của cha tôi, thu nhập của tôi trở thành nguồn sống duy nhất của gia đình khiến tôi cảm thấy áp lực rất lớn. Tôi nhận bất cứ công việc gia sư nào tôi có thể, cả ngày chỉ chạy đi dạy từ chỗ này sang chỗ khác. Còn mẹ tôi thì làm gì? Bà ấy chỉ ngồi nhà lo lắng cho đám cây cối trong vườn của bà ấy. Một con số không to đùng. Đúng là một người đàn bà vô tích sự. Tôi nhìn mẹ tôi một cách chán chường.
“Nếu con không nhanh lên thì thế nào cũng bị muộn đấy,” mẹ tôi bảo, chẳng thèm nhìn tôi. Ý bà là nhanh lên và biến đi cho khuất mắt. Tôi xỏ vội chiếc áo khoác và vớ lấy cái túi xách. Mẹ tôi cũng chả ra tiễn. Đấy, tôi đi làm kiếm tiền cho bà ấy ở nhà mà một câu chào tạm biệt bà ấy cũng tiếc. Trước đây bà ấy cũng hay tìm cách đuổi khéo cha tôi như vậy.
Tôi xỏ chân vào đôi giày cao gót màu đen bụi bặm của mình và rời khỏi nhà. Mệt mỏi, hai chân nặng như chì. Thiếu ngủ. Vừa đi tôi vừa nhìn những vết bầm tím ở cổ tay. Khách hàng đêm trước là một gã thích chơi trò ác dâm và thống dâm. Gã ta đã trói chặt hai cổ tay của tôi lại. Thỉnh thoảng tôi vẫn gặp những kẻ như thế này. Mỗi lần như vậy tôi đều lấy thêm tiền. “Nếu anh muốn chơi trò biến thái, đưa thêm mười nghìn yen thì tôi sẽ chiều anh,” tôi thường bảo họ thế.
Ở chỗ làm việc tôi buồn ngủ tới rụng rời nên đi vào phòng họp, trèo lên bàn và đánh một giấc. Cứ như là được bò vào giường thật. Tôi nằm ngửa trên bàn và ngủ. Ai đó đi vào phòng nhưng thấy tôi nằm trên bàn liền vội khép cửa lại và bỏ đi. Tôi biết thế nào cũng có ai tới gọi tôi dậy nhưng đến mức này rồi thì tôi mặc kệ, chả quan tâm.
Tôi phải ngủ tới gần một tiếng rồi mới quay lại bàn làm việc. Lúc đi qua bàn Kamei tôi thấy cô ta vội vàng che tờ giấy đang đọc lại. Tôi thừa biết đó là giấy mời tới tham dự một buổi gặp mặt xã giao nào đó do đồng nghiệp trong công ty tổ chức. Tôi vốn chẳng bao giờ tham dự nên lâu dần mọi người cũng không mời tôi nữa. Chỉ vì muốn trêu Kamei một tý nên tôi hỏi cô ta, “Cô có giấy mời đi đâu thế?”
Kamei hít một hơi dài thủ thế rồi bảo, “Cô Sato, cô có tới dự được không? Họ muốn tổ chức một bữa tiệc vào tuần sau?”
“Khi nào?”
“Thứ Sáu.”
Tôi có thể cảm thấy không khí trong văn phòng bỗng lắmg xuống. Tất cả mọi người đều nín thở chờ câu trả lời của tôi. Tôi liếc nhìn về phía ông giám đốc văn phòng lúc này đang ngồi trước máy tính giả vờ gõ gõ gì đó.
“Tôi e là tôi không đi được.”
Không khí lại xôn xao trở lại. Kamei cuống quýt gật đầu.
“Ôi, tiếc quả nhỉ.”
Trang phục của Kamei thật bắt mắt. Hôm nay cô ta mặc một chiếc quần vải bóng, áo sơ mi trắng rỡ hở cổ lộ ra một sợi dây chuyền vàng. Cô ta đúng là nổi bật trong một môi trường làm việc thủ cựu như văn phòng chúng tôi. Và khi rời khỏi chỗ làm vào buổi tối cô ta hẳn muốn tạo ra hào quang của một phụ nữ trẻ có công danh. Tôi đột nhiên cảm thấy mình ở thế thượng phong nếu so sánh cuộc sống hai mặt của cô ta với của tôi.
“Cô Sato, cô không bao giờ tham dự những buổi tối xã giao của cơ quan đúng không?”
Kamei có vẻ như muốn phản công. Tôi chui vào phía sau đống tài liệu trên bàn và không thèm trả lời. Vừa định đeo tai nghe vào thì tôi nghe thấy Kamei xin lỗi vì vượt quá giới hạn.
“Xin lỗi.”
Thật ra thì tôi đã tới tham dự một sự kiện như thế, ngay sau khi vào công ty. Có khoảng bốn mươi người cả thảy, tổ chức tại một quán bar cạnh công ty. Tôi cứ hình dung nó như một phần của công việc mà tôi nên tham dự. Ngoài những nhân viên cũ thì có khoảng mười người mới. Trong đó chỉ có hai mống, tôi và một người phụ nữ nữa, là tốt nghiệp đại học hệ bốn năm.
Gần như không có người phụ nữ nào khác ở công ty có bằng đại học. Trong số một trăm bảy mươi nhân viên mới thì chỉ có bảy người tốt nghiệp cử nhân. Không có các chức vụ hay bộ phận đặc biệt dành cho những người như chúng tôi nên tôi nghĩ rằng họ sẽ giao cho chúng tôi các vị trí tương đương với đám đàn ông cũng bằng cấp. Nhưng tôi được giao cho một vị trí ở phòng nghiên cứu cùng với một phụ nữ khác vốn có bằng cử nhân Đại học Tổng hợp Tokyo giống như Kamei nên tôi cứ nghĩ họ coi chúng tôi là những nhân viên có tài. Hình như tên cô ta là Yamamoto. Nhưng tôi không nhớ rõ vì cô ta đã nghỉ việc chỉ sau đó bốn năm.
Tham dự buổi giao lưu sau giờ làm việc đó, tôi chỉ thấy độc mỗi cảnh đồng nghiệp lớn hơn và các sếp đùa cợt, say xỉn. Nhìn cách đồng nghiệp nam tìm cách thăm dò những nữ nhân viên mới đến mà rầu lòng. Phần lớn bọn họ chỉ quan tâm tới những phụ nữ tốt nghiệp trung cấp và làm việc ở các vị trí trợ lý cấp thấp. Giữa những lời bình phẩm, bàn tán đó, tôi ngồi im lặng cạnh nữ đồng nghiệp tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo. Cả hai chúng tôi ngồi ngây ra đó. Xung quanh chúng tôi còn nhiều phụ nữ khác nhưng họ có vẻ quen với những sự kiện kiểu này nên vừa pha trò vừa ré lên cười với nhau. Còn đám đàn ông thì đang tiến hành một cuộc bỏ phiếu xem ai là nhân viên nữ được ưu chuộng nhất:
“Thôi được, trong số phụ nữ ở đây, ai là người mà các anh muốn mang đi nghỉ ở bãi biển nhất?”
Một nhân viên nam, có thâm niên hơn tôi năm năm, khơi mào. Giám đốc bộ phận cũng như giám đốc văn phòng đều vỗ tay khi tới lượt bỏ phiếu cho đối tượng ưa thích của họ. Cuối cùng một trợ lý ở bộ phận thiết kế được bình chọn. Sau đó thì tiêu chí được thay đổi như là ai là người lý tưởng để cùng đi xem hòa nhạc hay đi dạo trong công viên v.v… Thế rồi tới tiết mục “Ai là người các anh muốn lấy làm vợ?” Lập tức cả quán bar rộn lên tiếng vỗ tay nhất trí bỏ phiếu cho một cô gái dịu dàng, khiêm tốn làm trợ lý cho ban giám đốc.
“Hãy nhìn bọn họ mà xem!” nữ cử nhân trưởng Đại học Tokyo quay sang bảo tôi. Nhưng tôi không nói gì. Tôi chỉ ngồi đó, cứng đơ trên chiếc ghế lót sàn mỏng như tờ giấy. Mộng tan tành. Những người đàn ông đầy năng lực trong công việc giờ chỉ là một đám nhậu nhẹt, say xỉn.
Một người vừa vào công ty cùng thời gian với tôi chỉ về phía chúng tôi. “Thế còn cô Yamamoto thì sao?” anh ta hỏi.
Những người đàn ông vừa bỏ phiếu bầu phụ nữ quay lại và giả vờ tỏ vẻ kính cẩn. “Không, cô Yamamoto không được. Cô ấy quá thông minh cho chúng ta!” Tất cả đám đàn ông cười ré lên. Yamamoto là một phụ nữ xinh đẹp, loại phụ nữ mà đám đàn ông thấy khó tiếp cận nhất. Yamamoto lạnh lùng nhìn họ và nhún vai.
“Vậy còn cô Sato thì sao?”
Anh ta chỉ về phía tôi và tất cả đàn ông trong ban nghiên cứu, đều là người đi trước tôi quay sang nhìn tôi, mặt họ đỏ lên vì rượu.
“Hãy cẩn thận khi nói về cô Sato. Cô ấy kiếm được việc làm là nhờ có quan hệ rộng đấy!”
Tôi vẫn luôn tin rằng tôi có được công việc này là nhờ khả năng và sự cần cù của mình nhưng những người khác có vẻ không nghĩ như vậy. Lần đầu tiên trong đời, tôi chợt nhận ra sự tồn tại của tôi trên đời này sẽ không bao giờ được xã hội tán đồng.