Phần 1. · 4
Một năm sau đó, cửa hàng của ba tôi làm ăn thất bát. Thật ra thì không chỉ cửa hàng mà đúng hơn là toàn bộ công việc làm ăn kinh doanh của ông. Khi người Nhật trở nên sung túc hơn thì nhu cầu nhập khẩu những loại bánh kẹo chất lượng cao cũng tăng lên và người tiêu dùng bắt đầu bỏ qua những thứ kẹo rẻ tiền vốn là mặt hàng chiến lược của ba tôi. Cửa hàng phải đóng cửa. Ba tôi phải bán sạch mọi thứ để trả hết nợ nần. Cabin trên núi, thậm chí cả ngôi nhà nhỏ của chúng tôi ở phía Bắc Shinagawa, ô tô, mọi thứ đều ra đi.
Sau khi chấm dứt công việc kinh doanh, ba tôi quyết định quay trở về Thụy Sỹ làm lại từ đầu. Em trai ông, chú Karl, có một nhà máy dệt kim ở Bern đang cần người quản lý sổ sách nên tất cả chúng tôi sẽ chuyển sang sống ở Thụy Sỹ. Quyết định này được đưa ra đúng lúc tôi đang chuẩn bị thi vào trung học. Tôi đã để mắt đến một trường trung học hàng đầu, loại trường không bao giờ chấp nhận một đứa ngu dốt như Yuriko. Đó là ngôi trường mà tôi và Kazue theo học. Hãy gọi tắt là trường nữ sinh trung học Q. Đây chính là một trường điểm để chuyển tiếp sang đại học Q.
Tôi đã xin ba tôi cho tôi chuyển tới sống với ông ngoại ở quận P để chuẩn bị cho kỳ thi. Nếu đỗ thì tôi đi học ở đây cũng rất tiện.
Bằng bất cứ giá nào tôi cũng phải phá hoại ý định đưa tôi sang Thụy Sỹ sống với Yuriko.
Lúc đầu ba tôi tỏ vẻ khó chịu, cho rằng học phí của trường nữ sinh trung học Q quá cao, vượt ngoài khả năng của ông. Nhưng khi thấy Yuriko và tôi gần như không nói chuyện với nhau kể từ sự kiện xảy ra ở nhà nghỉ trên núi lần trước thì ông quyết định có lẽ kế hoạch của tôi là hợp lý hơn cả. Tôi buộc ông ký vào một bản thỏa thuận mà theo đó nếu tôi đỗ được vào ngôi trường mà tôi chọn thì ông sẽ đài thọ mọi chi phí cho tới khi tốt nghiệp. Mặc dù ông ấy là ba tôi, tôi cũng không tin ông ấy được nếu không có giấy trắng mực đen.
Thế là mọi chuyện đã được quyết định, tôi sẽ tiếp tục sống ở quận P với ông ngoại trong một căn hộ chung cư do chính phủ bao cấp. Ông ngoại lúc đó sáu mươi sáu tuổi. Đó là một ông già nhỏ bé, tay chân khẳng khiu. Trông ông đúng là bố đẻ của mẹ tôi không nhầm vào đâu được. Ông là loại người luôn tìm mọi cách để trông sành điệu nhưng lại không có tiền nên đi đâu ông cũng mặc áo vest, mái tóc muối tiêu xức dầu bóng mượt. Cả căn hộ nhỏ xíu của ông nồng nặc mùi dầu bôi tóc khiến tôi đôi lúc tưởng sắp chết ngạt.
Trước đó tôi rất ít gặp ông ngoại nên cũng hơi lo khi nghĩ tới việc chuyển tới sống với ông. Tôi không biết sẽ phải nói chuyện gì với ông. Nhưng khi tôi dọn tới đó thật thì thì mới thấy mọi lo lắng của tôi hóa ra là thừa. Ông ngoại tôi nói liên mồm cả ngày, giọng the thé. Cũng chả phải để cho tôi nghe, ông chủ yếu nói chuyện một mình. Đúng vậy, ông cứ nhắc đi nhắc lại một chuyện nào đó, lảm nhảm cả ngày và tôi ngờ rằng ông có vẻ hài lòng vì ở cùng nhà với một đứa lầm lì như tôi. Tôi chẳng khác gì một cái thùng chứa những chuyện tầm phào bất tận của ông.
Hẳn ông ngoại cũng thấy bất tiện khi đột nhiên phải chứa chấp một đứa cháu gái trong nhà. Nhưng chắc ông cũng hài lòng với số khoản trợ cấp thêm của ba tôi. Trước đó ông chỉ sống bằng khoản lương hưu ít ỏi của mình. Thỉnh thoảng ông cũng tìm cách kiếm thêm ít tiền bằng cách giúp đỡ hàng xóm việc này việc nọ, giống như một chân chạy việc vặt trong khu. Nhưng có vẻ như ông vẫn rất túng thiếu.
Trước đây ông ngoại làm gì? Cũng khó mà biết được. Khi chúng tôi còn nhỏ, mẹ bảo lúc trẻ, ông rất giỏi bắt bọn trộm dưa nên ông quyết định gia nhập lực lượng cảnh sát và trở thành một thanh tra. Đó là lý do tại sao tôi cứ nghĩ là ông hẳn rất nghiêm khắc và lúc đầu tôi rất sợ ông. Nhưng thực tế ngược hẳn lại. Ông ngoại tôi không phải là một thanh tra cảnh sát. Vậy ông đã làm gì? Tôi sẽ giải thích chuyện này cho các bạn rõ. Nhưng sẽ khá mất thời gian, xin các bạn kiên nhẫn.
“Không dễ mà tới thăm ông được vì ông là một thanh tra cảnh sát.” Mẹ tôi hay nói thế. “Ông rất bận. Với lại xung quanh ông lúc nào cũng toàn bọn xấu. Nói như vậy không có nghĩa ông là người xấu. Trái lại là khác. Nhưng mà ở đời người xấu thường thích tìm đến với người tốt. Chẳng hạn như những người vi phạm pháp luật sẽ tìm tới ông ngoại để nhận lỗi và tìm cách sửa sai. Nhưng cũng có một số người xấu xa tới tận xương tủy, xấu không còn thuốc chữa. Người như thế sẽ nuôi lòng thù hận với ông ngoại và sẽ tìm cách trả thù. Thế nên các con mà tới chỗ đó vào lúc họ trả thù ông thì sẽ rất nguy hiểm.”
Nghe mẹ kể chuyện cứ như là trong phim hình sự khiến tôi vô cùng thích thú. Ông ngoại tôi là một thanh tra cảnh sát cơ đấy, đi đâu tôi cũng khoe với mọi người như thế. Nhưng Yuriko chả bao giờ có ấn tượng gì về chuyện đó, con bé chỉ luôn hỏi mẹ sao ông ngoại lại làm thanh tra cảnh sát. Chắc con bé nghĩ rằng có ông ngoại làm thanh tra cảnh sát cũng cũng chẳng lấy gì là to tát. Tôi thực sự không biết nó nghĩ gì. Và câu trả lời của mẹ tôi luôn luôn là “Ông ngoại rất giỏi bắt bọn trộm dưa. Cha ông có một đồn điền dưa hấu rộng lớn ở Ibaraki, nơi bọn trộm hoành hàng rất là dữ dội.”
Tôi trúng tuyển vào trường nữ sinh trung học Q ngay trước khi ba mẹ tôi và Yuriko lên đường sang Thụy Sỹ nên tôi chất hết đồ đạc của mình lên một chuyến xe tải, đệm, bàn học, đồ dùng học tập và rời ngôi nhà của ba mẹ tôi ở Bắc Shinagawa tới căn hộ chung cư của ông ngoại ở quận P. Quận P vốn là khu vực kém phát triển nhất ở Tokyo hay còn gọi là Hạ Thành. Khu vực này vốn bằng phẳng, ít nhà cao tầng. Nhiều nhánh sông lớn chảy qua khu vực này, chia cắt nó thành các xóm nhỏ. Những con đê lớn dọc bờ sông chính là thứ thành lũy duy nhất che khuất tầm nhìn. Những tòa nhà xung quanh đó đều không cao lắm nhưng vì đứng cạnh đê nên trông chúng rất nặng nề, ngột ngạt. Thực chất đây là một vùng đất rất đặc biệt. Phía ngoài đê, dòng sông lớn đầy ắp nước nhưng chảy lờ đờ, uể oải. Mỗi khi trèo lên bờ đê ngắm nhìn dòng nước nâu sẫm của con sông phía dưới, tôi lại tưởng tượng ra những sinh vật khác nhau đang bơi lượn dưới mặt nước.
Vào cái ngày mà tôi dọn tới ở, ông ngoại mua về hai chiếc bánh su kem ở tiệm tạp hóa. Đây không phải bánh su kem thật làm ở cửa hàng chuyên bánh kem mà là một loại bánh bột cứng đờ trát nhân kem sữa trứng mà tôi thậm ghét. Vì không muốn làm ông ngoại buồn nên tôi cố ăn hết, giả vờ nhấm nháp từng miếng một. Trong lúc ăn, tôi ngắm ông ngoại cố gắng tìm ra nét giống với mẹ tôi. Mặc dù họ có cùng vóc người nhỏ nhắn nhưng hai khuôn mặt lại hoàn toàn khác biệt.
“Mẹ cháu trông không giống ông. Mẹ cháu giống ai hả ông?”
“Ôi, mẹ cháu, nó chả giống ai cả. Chắc giống một ông cụ tổ nào đó.”
Ông vừa nói vừa tháo bìa hộp bánh ra, gập phẳng lại theo chỉ dẫn bên ngoài rồi cất vào đám giấy gói và dây buộc trên chạn bếp.
“Trông cháu cũng chả giống ai,” tôi nói.
“Ờ, nhà này toàn thế ấy mà.”
Ông ngoại rất nề nếp. Sáng nào ông cũng dậy vào năm giờ sáng và bắt đầu bằng việc chăm sóc những cây bonsai nằm chen chúc trên ban công và những khoảng trống hẹp trong hành lang. Trồng cây bonsai là sở thích của ông. Ông dành hai tiếng buổi sáng để chăm chút chúng. Sau đó ông dọn dẹp phòng ngủ rồi mới ăn sáng.
Mở mắt ra là ông bắt đầu nói huyên thuyên bằng tiếng Ibaraki, thổ ngữ ở quê ông. Ngay cả khi tôi đang bận đánh răng hay rửa mặt không trả lời được thì ông vẫn cứ nói liên mồm.
“Ôi, đây quả là một thân cây rất đẹp. Nhìn xem! Về độ khỏe khoắn. Về tuổi tác! Thử hình dung những cây thông này trồng dọc bên đường cao tốc Tokaido mà xem. Ông thật may mắn có được những cây bonsai quý thế này. Mà có khi ông phải cảm ơn chính tài năng của mình. Hẳn vậy. Đúng là ông rất có hoa tay nhé! Chỉ thiên tài mới trồng được những cây bonsai thế này, mà thiên tài thường phải hơi điên rồ và hài hước. Đúng là ông còn gì!”
Tôi nhìnvề phía ông ngoại, nghĩ là ông đang nói chuyện với mình nhưng ông vẫn đang mải ngắm cây bonsai và lẩm bẩm một mình. Sáng nào ông cũng nhắc đi nhắc lại những lời đó.
“Những người không thật sự điên rồ vì bonsai có thể cố gắng hết sức nhưng họ sẽ không bao giờ có đủ tài năng, những cây bonsai của bọn họ sẽ không thể đẹp như cây bonsai của ông già ngốc này. Sự khác biệt là ở chỗ nào? Xem nào…”
Cuối cùng tôi không quay sang hóng chuyện mỗi khi ông ngoại lên tiếng nữa. Tôi nhận ra rằng ông không nói chuyện với tôi. Ông đặt ra một câu hỏi rồi tự trả lời. Tôi đang phấn khởi vì đã thi đỗ vào trường trung học và cuộc đời tôi đang chuẩn bị giở sang một trang mới. Đám cây bonsai không phải là mối bận tâm của tôi. Tôi giở cuốn catalogue giới thiệu về trường nữ sinh trung học Q của tôi ra xem và để cho trí tưởng tượng bay bổng với những hình ảnh về tương lai của mình.
Tôi để ông ngoại lại với những cây bonsai và đi vào bếp lấy một lát bánh mì quệt đầy bơ, mứt và mật ong. Ba tôi không có mặt ở đây để cằn nhằn về việc tôi dùng quá nhiều mứt. Tôi cảm thấy mình thực sự tự do. Ba tôi keo kiệt tới mức lúc nào cũng nhắc nhở chúng tôi về việc ăn gì và bao nhiêu là đủ. Chúng tôi chỉ được phép bỏ hai viên đường vào một tách trà. Mứt thì chỉ được phép quết một lớp mỏng dính lên bánh mì mà thôi. Còn nếu chúng tôi muốn mật ong thì chỉ được lấy mật ong, không có đường với mứt gì nữa. Những quy tắc về dùng bữa của ba tôi cũng rất hà khắc. Không nói chuyện ở bàn ăn. Khuỷu tay trên bàn, lưng thẳng đứng. Không cười khi trong miệng đang có thức ăn. Cho dù tôi có làm gì thì ông cũng bới bèo ra bọ, có cớ để phàn nàn. Còn ở đây, dù tôi có ngồi thượt ra, mắt mũi lờ đờ dùng bữa sáng thì ông ngoại cũng chả để ý. Ông còn bận đứng ngoài ban công trò chuyện với đám cây cối của mình.
“Cần phải có cảm hứng, cháu biết đấy. Đó là điều cơ bản nhất. Cảm hứng. Cần phải thổi vào đó một nguồn cảm hứng. Hãy giở từ điển ra mà xem. Cháu sẽ thấy sự tao nhã thôi chưa đủ. Đúng là sự tao nhã thì tạo sinh khí cho công việc. Nhưng nó không phải từ trên trời rơi xuống. Mà cần phải có tài năng. Những người thành công là những người có tài. Như ông nói, ông là một người có tài. Vì ông đã được đất trời truyền cho một nguồn cảm hứng.”
Ông ngoại nói và viết nguệch ngoạc lên không khí những Hán tự của chữ cảm hứng. Rồi tới chữ điên rồ. Tôi vừa uống trà vừa quan sát ông trong im lặng. Mãi một lúc lâu sau, ông ngoại mới nhìn thấy tôi đã ngồi ở bàn bếp từ lúc nào.
“Có còn gì cho ông ăn không vậy?”
“Có ạ, nhưng mà nguội hết rồi ạ.” Tôi nói và chỉ vào khoanh bánh mì nướng. Thế nhưng ông ngoại vẫn sung sướng đưa miếng bánh mì lạnh, cứng ngắc lên miệng và cố gặm nó bằng hàm răng giả của mình khiến vụn bánh bay vung vãi. Thấy thế, tôi chợt hiểu ra rằng những câu chuyện mà mẹ tôi dựng lên về việc ông là một thanh tra cảnh sát chỉ là dối trá. Tôi không biết phải giải thích như thế nào nhưng ngay cả với một đứa nhóc mười sáu tuổi như tôi cũng có thể thấy rõ ông là loại người gì. Đó là loại người chỉ nghĩ cho bản thân mình. Ông không thể là người có khả năng đuổi bắt một người đàn ông khác để trị tội.
Hàm răng giả của ông ngoại không được khít khiến ông rất khó nhai, nên ông trụng miếng bánh mì vào tách trà cho tới khi nó mềm nhũn và sũng nước. Tách trà của ông lẫn cẫn những vụn bánh mì nhẽo nhưng ông vẫn uống cho bằng sạch.
Tôi lấy hết can đảm để hỏi ông, “Ông ngoại, ông có nghĩ Yuriko được truyền cảm hứng không?”
Ông ngoại nhìn ra cây thông lớn màu đen ngoài ban công và trả lời với một vẻ không chắc chắn.
“Hẳn là không. Yuriko quá đẹp. Con bé có thể là một loại cây cảnh trong vườn. Một bông hoa đẹp. Nhưng nó không phải là một cây bonsai.”
“Có nghĩa là một bông hoa dù đẹp đến đâu đi nữa cũng không được truyền cảm hứng?”
“Đúng vậy. Cảm hứng là con át chủ bài của bonsai. Nhưng là do con người tạo ra. Hãy nhìn cái cây thông đen ngoài kia. Đó mới là cảm hứng. Thấy không? Một cây cao niên cho chúng ta bài học về cuộc sống. Đúng là lạ lùng phải không? Cây cối trông có thể dầu dãi, nhưng vẫn sống như thường. Cây cối có thể chống chọi lại với thời gian. Con người chỉ đẹp khi còn trẻ. Nhưng cây cối, bất chấp năm tháng, nếu chúng ta kiên trì rèn luyện nó, nó sẽ dần tạo thế như ta mong muốn cho dù ban đầu, theo tự nhiên, nó sẽ cố cưỡng lại. Và khi điều đó xảy ra? Một cuộc đời mới lại bắt đầu. Cảm hứng chính là khi ta cảm thấy sự nhiệm màu! Miracle, tiếng Anh gọi thế có đúng không?”
“Đúng ạ.”
“Thế còn tiếng Đức thì nói thế nào?”
“Cháu không biết.”
Đấy, lại bắt đầu rồi. Tôi nghĩ và giả vờ nhìn về phía ban công nơi ông đang đứng. Tôi gần như không hiểu gì về những điều mà ông ngoại nói nên tôi bắt đầu cảm thấy mệt mỏi. Mọi quan tâm thực của ông ngoại đều dồn vào cái cây thông già nua khô quắt đặt ở giữa ban công. Rễ cây thì sần sùi xấu xí còn cành cây thì buộc dây điện chằng chịt. Gai mọc thành trùm như mũ giáp, cái cây này quả là đang trong quá trình rèn luyện. Nó có dáng vẻ của một trong những cây thông già cong queo méo mó trong những bộ phim samurai đánh đấm vớ vẩn. Thế mà nó lại được truyền cảm hứng còn Yuriko diễm lệ thì không. Còn gì hoàn hảo hơn thế chứ? Tôi ngưỡng mộ những gì ông ngoại nói. Và tôi cầu nguyện để được sống với ông ngoại như thế này suốt đời.
Nhưng tôi cũng nhanh chóng phát hiện ra ông ngoại hóa ra cũng có lợi khi cho tôi về nhà ở cùng. Có những hôm ông chạy tá hỏa để cất đám bonsai vào trong tủ. Có một ông khách cứ sáng Chủ nhật thứ ba hằng tháng vào mười một giờ lại sang gọi ông ngoại. Chính xác như đồng hồ. Ông ngoại đã đánh dấu cái ngày Chủ nhật tuần thứ ba đó bằng một vòng tròn đỏ trên lịch để khỏi quên. Vào những ngày Chủ nhật ấy, ngay sau khi trò chuyện với đám cây bonsai, ông ngoại bắt tay vào việc xếp chúng vào trong tủ rồi chuyển cái tủ từ chỗ này sang chỗ khác. Dù trời đầy mây và có thể mưa bất cứ lúc nào ông ngoại vẫn cứ kéo cái đệm của tôi ra ban công để lấy chỗ cho cái tủ cây của mình. Sau đó ông bắt đầu khệ nệ bê các cây bonsai vào đó. Có tới một trung đội các cây bonsai nằm chen chúc ở ngoài ban công nên khi không nhét được hết chúng vào trong tủ thì ông đành phải vác một số tới gửi hàng xóm ở cùng tòa nhà. Mất một thời gian tôi chịu không hiểu nổi hành động này của ông ngoại. Tại sao ông lại muốn cất giấu những gì vốn làm ông vô cùng hãnh diện?
Người khách mà ông ngoại đón tiếp mỗi sáng Chủ nhật thứ ba hằng tháng là một người đàn ông lớn tuổi có khuôn mặt hiền từ. Mái tóc màu trắng thưa thớt của ông ta được chải gọn gàng, chiếc áo sơ mi màu xám cực kỳ ăn khớp với cái áo khoác màu nâu. Chỉ gọng kính đen dày cộp của ông ta là có vẻ quá mức phô trương. Mặc dù lần nào đến ông ta cũng xin lỗi là đã tới tay không nhưng chẳng bao giờ ông ta mang quà đến. Khi ông ta đến chơi, ông ngoại thường ngồi ngay ngắn và tiếp đãi ông ta với vẻ đàng hoàng nhất. Những lúc đó không hiểu vì lí do gì mà ông ngoại không muốn tôi quanh quẩn ở bên cạnh. Trong khi đối với những vị khách khác thì ông lại cứ muốn tôi ngồi bên cạnh để kể đông kể tây, rõ ràng là muốn khoe khoang về việc mình có một đứa cháu gái lai tây, lại còn là học sinh của trường nữ sinh trung học Q nổi tiếng. Ông ngoại có rất nhiều người quen. Nào là người phụ nữ bán bảo hiểm, ông gác cổng, ông quản lý chung cư, và tất cả những ông già mê bonsai khác. Họ rất hay ghé qua thăm ông. Nhưng chỉ có mỗi ông già trên là ông không muốn tiếp đãi với sự có mặt của tôi. Tôi không khỏi không cảm thấy lạ lùng.
Vào những ngày có hẹn với vị khách này, ông ngoại thường tỏ ra bồn chồn lo lắng. Ông hỏi tôi có phải làm bài tập hay không. Tôi sắp ấm trà rồi giả vờ quay về phòng. Tôi nấp đằng sau cánh cửa kéo chỗ vách ngăn giữa hai phòng để nghe trộm. Không dông dài nữa, người đàn ông kia bắt đầu tra hỏi ông ngoại.
“Dạo này ông thế nào?”
“Tôi xoay xở cũng ổn. Xin đừng bận tâm. Tôi rất lấy làm ngại vì ông đã phải đi một chặng đường dài tới căn hộ tồi tàn, xập xệ này. Sự thật là cháu gái tôi có đến đây ở với tôi và chúng tôi sống rất tiết kiệm, đơn giản. Dĩ nhiên là chúng tôi cũng có những bất đồng, con bé là học sinh trung học còn tôi là một lão già lẩm cẩm. Nhưng nói chung chúng tôi khá hợp nhau.”
“Ông nói là cháu gái ông à? Hai người trông chả giống nhau tí nào, đúng không? Tôi định hỏi ông về cô bé nhưng rồi tôi lại nghĩ, nếu đó là bồ của ông thì sao? Thế thì xấu hổ quá, tôi vốn không có ý tò mò xía vào chuyện của ông…”
Ông ta nói bóng nói gió rồi cả hai cùng cười phá lên. “Eee-hee-hee-hee!”
Hình như là tôi có điệu cười giống ông ngoại. Giọng nói của ông có âm điệu cao nhưng lạ thay tiếng cười thì rất trầm, thậm chí hơi có vẻ tục tĩu. Rồi ông ngoại vội thanh minh.
“Ồ không, không, nó chính là cháu ngoại tôi đấy. Bố nó là người nước ngoài.”
“Người Mỹ à?”
“Không, Châu Âu. Cháu gái tôi nói thành thạo tiếng Đức và tiếng Pháp và nhiều thứ tiếng khác nhưng nó vẫn muốn học ở Nhật. Nó nói nó là người Nhật nên nó muốn học hành và trưởng thành ở đất Nhật. Nó cứ đòi ở lại Nhật trong khi bố mẹ nó chuyển đi. Con rể tôi làm việc cho Bộ Ngoại giao Thụy Sĩ, chức vụ chỉ có sau Đại sứ thôi đấy! Nó đúng là một thằng rể tốt, chỉ mỗi tội không biết nói một từ tiếng Nhật nào. Nhưng nó nói nó vẫn có thể giao tiếp bằng cách ra hiệu và bằng thần giao cách cảm. Bằng thần giao cách cảm, mà đúng thế thật. Con rể tôi biết chính xác tôi nghĩ gì. Vừa hôm gì thôi, nó gửi cho tôi hai cái đồng hồ đeo tay của Thụy Sĩ. Chúng đều là sản phẩm được làm từ một nguồn cảm hứng lớn. Ông có biết nguồn gốc của cái từ cảm hứng này là từ đâu ra không? Chữ Hán của nó như thế này này.”
Tôi cố nín cười khi nghe ông ngoại khoác lác.
“Không, tôi không nghĩ là tôi biết nguồn gốc của nó.” Vị khách thở dài.
“Tôi cho rằng nguồn gốc của nó có liên quan tới thần thánh hay một lực lượng siêu nhiên, một sự kết hợp giữa sức mạnh và sự tao nhã.”
“Tóm lại đó là một từ rất hay phải không? Mà thôi, hãy kể cho tôi về gia đình cháu gái ông. Hiện giờ họ đang ở đâu?”
“Chính phủ Thụy Sỹ đã cho triệu con rể tôi và gia đình nó về Thụy Sĩ.”
“Thế cơ à!”
“Cũng chả có gì to tát. Làm cho Liên Hợp Quốc hay một ngân hàng nào đó còn oai hơn ý chứ.”
“Tốt rồi, thông tin này khiến tôi yên tâm, ít nhất là trong lúc này. Tôi nghe nói ông bắt đầu làm một số việc vặt nhưng tôi tin rằng ông tự biết cư xử cho đúng đắn. Ông sẽ không lừa đảo người khác nữa đúng không? Giờ ông còn phải nghĩ tới cháu gái của mình nữa chứ!”
“Không, không có chuyện đó đâu. Tôi đang tu tỉnh mà. Ông cứ nhìn quanh mà xem, chả có cây bonsai nào trong nhà. Tôi sẽ không bao giờ đụng tới một cây bonsai nào nữa.”
Ông ngoại nói vẻ rất ăn năn hối lỗi. Nghe tới đây tôi đoán rằng hẳn trước đây ông có dính dáng gì đó tới việc lừa đảo buôn bán cây cảnh và vị khách kia chính là nhân viên quản thúc. Mỗi tháng ông ta tới kiểm tra ông ngoại một lần xem ông ngoại có hành vi tái phạm hay không.
Giờ nghĩ lại tôi mới nhận ra rằng lúc đó ông ngoại đang trong thời gian tại ngoại thử thách nên sự có mặt của một đứa cháu gái ở cùng nhà sẽ làm tăng thêm độ tin cậy đối với nhân viên quản chế. Ông ngoại thì muốn lừa phỉnh người quản thúc còn tôi thì muốn ở lại Nhật Bản. Chúng tôi cần tới nhau để thực hiện mục đích của mình hay nói theo một cách khác là chúng tôi chúng tôi chính là đồng phạm. Tuyệt vời nhất là tôi có thể kể cho ông ngoại mọi nhược điểm của Yuriko. Đối với tôi, đó chính là quãng thời gian hạnh phúc nhất trong đời.
Không bao lâu sau ngày Chủ nhật ấy, tôi tình cờ chạm trán nhân viên quản thúc của ông ngoại. Đó là vào kì nghỉ Tuần lễ Vàng đầu mùa xuân khi tôi đang đạp xe từ cửa hiệu tạp hóa về nhà. Một chiếc xe buýt du lịch đang dừng lại bên cạnh một khu đất cũ và người đàn ông mà tôi nhìn thấy ở nhà ông ngoại đang vẫy tay chào tạm biệt những người khách đi trên xe. Họ đều là những người lớn tuổi và ai cũng cắp theo một cây bonsai mặt mũi hớn hở. Tôi nhìn sang tấm biển treo gần đó thấy ghi hai chữ VƯỜN THỌ. Thì ra đây là nơi người ta trồng bonsai? Tôi nhìn chằm chằm về phía đó, bị thu hút bởi những cây bonsai nhỏ bé. Khi chiếc xe buýt rời đi thì người đàn ông kia nhìn thấy tôi.
“Ôi thật may là lại được gặp cháu ở đây,” ông ta nói. “Thật ra ta có chuyện muốn hỏi cháu nếu cháu không ngại.”
Tôi tụt xuống khỏi xe và lễ phép cúi đầu chào. Nhìn vào phía trong khu vườn qua chiếc cổng chào có mái che đồ sộ chả kém gì các đền thờ, tôi thấy thấp thoáng một ngôi nhà tuyệt đẹp xây dựng theo kiến trúc sukiya giản dị, thanh lịch mà kín đáo. Bên cạnh đó là một quán trà đạo rất dễ thương. Ngoài ra còn có một nhà kính trồng cây với các cửa sổ làm bằng nhựa trong có mấy người đàn ông trẻ đang cầm vòi tưới cây và xới đất. Đây trông giống một công viên được chăm chút hơn là một vườn ươm. Các tòa nhà, vườn cây, mọi thứ đều có một vẻ xa xỉ. Ngốc như tôi cũng có thể thấy rõ người ta đã tiêu rất nhiều tiền vào chỗ này. Thậm chí ngay cả người quản thúc ông ngoại trông cũng hơi lạc lõng, với chiếc tạp dề màu xanh hải quân chỉnh tề khoác ngoài áo sơ mi và chiếc nơ bướm đeo cổ trông ông giống như là một vị thị trưởng trong ngày hội làm đồ gốm hơn là một người làm vườn. Ông đã thay chiếc kính gọng sẫm bằng một chiếc kính râm gọng đồi mồi, mắt kính màu xanh sẫm.
Ông ta bắt đầu lục vấn về gia đình tôi. Hẳn ông ta muốn kiểm tra tính chính xác trong câu chuyện của ông ngoại. Có phải đúng là ba mẹ tôi đã chuyển về Thụy Sĩ hay không, ông ta hỏi tôi, có chút nghi vấn. Tôi đảm bảo với ông ta rằng đó là sự thật.
“Thế cả ngày ông cháu làm gì?”
“Ông có vẻ bận chạy những việc lặt vặt ạ.”
Mà đúng thế thật. Kể từ khi tôi dọn tới, lúc nào ông cũng có hàng đống công việc do những người hàng xóm nhờ vả.
“Thế thì tốt. Nhưng cụ thể là ông ấy làm gì?”
“À, thì chẳng hạn như ông cháu đi vứt xác mấy con mèo hoang bị chết, trông nhà cho người ta khi chủ nhà đi vắng, tưới cây cho họ, đại loại là những việc như thế ạ.”
“Được rồi, tóm lại chừng nào ông ngoại cháu không làm chuyện gì dại dột liên quan tới mấy cây bonsai thì ta chẳng có gì để phàn nàn. Ông ấy chả biết gì về bonsai và chả có công việc tử tế nào. Ông ấy ăn trộm cây bonsai của người khác để bán. Đôi khi ông ấy mua những cây rẻ ở chợ đêm rồi lừa bán cho người khác với giá cắt cổ. Ông ấy đã gây ra rất nhiều rắc rối và lừa đảo của người khác tổng cộng lên tới hơn 50 triệu yen.”
Tôi ngờ rằng việc ông ngoại lừa tiền của người khác có đụng chạm tới ông ta. Ông ta hẳn là một người trồng cây bonsai hoặc ít nhất cũng là nhân viên ở đây. Chắc ông ngoại đã lấy trộm cây ở đây. Lúc đầu ông nhận làm người môi giới để bán cây cho họ nhưng khi bán được rồi thì lại cuỗm hết tiền. Người đàn ông này hẳn được giao nhiệm vụ theo dõi ông ngoại để ngăn ngừa ông ngoại tái phạm. Chắc chắn ông ta sẽ còn để mắt tới ông ngoại dài dài. Ông ngoại thật đáng thương.
Hàng trăm cây bonsai xếp hàng ngay ngắn dọc theo những tấm ván gỗ suốt khu vườn. Ở giữa là một cây thông lớn khiến tôi nhớ tới cây thông quý giá của ông ngoại.
“Cháu xin lỗi đã hỏi ông thế này, nhưng có thật là ông ngoại cháu không hề biết gì về bonsai không?”
“Ông ấy chỉ là một tên nghiệp dư gian lận.” Ông ta khịt mũi với vẻ khinh bỉ, cái vẻ tử tế của ông ta biến mất.
“Nhưng nếu ông ngoại của cháu lừa gạt người ta, những người đó hẳn phải rất giàu.”
Tôi nghĩ rằng nếu có những người giàu như vậy, giàu tới mức dễ dàng bị rơi vào bẫy của ông ngoại vì thiếu hiểu biết về những cây bonsai mà ông tôn thờ thì thế nào họ cũng làm ông bực mình. Tôi không thể hiểu nổi tại sao người ta có thể chi nhiều tiền đến thế cho một cây bonsai, đối với tôi những người bị lừa ở đây còn đáng trách hơn cả cái người đi lừa họ. Tất nhiên, ông nhân viên quản thúc không nghĩ vậy. Ông ta giận dữ chỉ trỏ xung quanh.
“Rất nhiều người ở đây trở nên giàu có sau khi nhận được tiền bồi thường cho diện tích đánh cá mà họ bị mất. Cả khu vực này trước kia vốn là đại dương.”
“Đại dương ư?” Tôi há hốc mồm vì ngạc nhiên, quên bẵng cả mấy cây bonsai. Đột nhiên tôi nhận ra rằng tình yêu nảy sinh giữa ba mẹ tôi, cái năng lượng mà nó tạo ra đã tiêu ngay khi quá trình thụ thai bắt đầu. Cái sinh thể mới chính là tôi sau này hẳn đã giải thoát cái năng lượng đó vào một đại dương ngăn cách hai người. Tôi đã nghĩ tới điều này từ rất lâu. Và giờ đây, tôi đã tìm thấy lối thoát trong một cuộc đời mới mà tôi chia sẻ với ông ngoại, một cuộc đời đồng thời là một đại dương mênh mông. Quyết định dọn đến với ông ngoại trong căn hộ nhỏ hăng mùi dầu bôi tóc, nghe ông tán gẫu miên man, sống trong một căn phòng giữa những cây bonsai đối với tôi là đến với đại dương, mà hóa ra trước kia nơi này chính là đại dương thật. Sự trùng hợp ngẫu nhiên đó khiến tôi hài lòng và tôi quyết định sẽ ở lại nơi này.
Khi về tới nhà tôi kể lại cho ông ngoại nghe về cuộc gặp gỡ với người nhân viên quản thúc ở Vườn Thọ. Vẻ ngạc nhiên, ông ngoại hỏi tôi.
“Ông ta nói gì về ông?”
“Ông ấy bảo ông chỉ là một tay chơi bonsai nghiệp dư.”
“Đúng là đồ rác rưởi!” Ông ngoại làu bàu. “Cái lão khốn ấy thì biết gì. Cái cây sồi được giải nhất quận của lão ấy chỉ là một trò đùa. Nghĩ tới đã muốn cười bể cái bụng. Ai chả có thể ném tiền ra và mua một cái cây đẹp. Cứ để lão ta ba hoa về cái cây năm triệu yen của lão ta. Cháu chỉ cần nhìn thôi cũng thấy ngay lão tao chả biết đếch gì về cái gọi là cảm hứng.”
Kể từ đó hôm nào ông ngoại cũng dành cả ngày nói chuyện với đám cây bonsai của ông ngoài ban công.
Mãi sau này tôi mới biết người nhân viên quản thúc trước đây làm việc ở văn phòng quận. Khi về hưu, ông nhận một chân hướng dẫn viên trong Vườn Thọ và tình nguyện làm người quản thúc ông ngoại. Giờ thì ông ta đã qua đời. Khi ông ta chết, tôi và ông ngoại tôi cảm thấy như thể vừa cởi bỏ được một gánh nặng lớn.
Còn ông ngoại của tôi thì sao? Ông vẫn sống nhưng đã già yếu lắm rồi, suốt ngày chỉ ngủ. Ông không nhận ra tôi nữa. Tôi vẫn thay bỉm cho ông hằng ngày và làm việc như điên để chăm sóc ông nhưng ông vẫn chỉ tay vào mặt tôi mà hỏi tôi là ai. Thỉnh thoảng ông có gọi tên mẹ tôi hay nói những câu như, “Mày nên làm bài tập đi không lại thành kẻ cướp mất thôi!” Mỗi lần như vậy tôi những muốn đáp lại rằng, “Ối giời ơi, nhìn lại mà xem, ông mới là người đi trộm cắp thì có.” Nhưng chừng nào ông còn sống thì tôi còn có thể ở với ông trong căn hộ trợ cấp của chính phủ nên tôi cũng không thể đối xử tàn tệ với ông.
Đúng là tôi cũng muốn ông ngoại tôi sống lâu, một cuộc sống thanh đạm. Nhưng hình như cái từ cảm hứng đã hoàn toàn bốc hơi khỏi đầu ông. Hai năm trước vì quá mệt mỏi không thể tiếp tục chăm sóc ông được nữa tôi đã gửi ông vào viện dưỡng lão Misosazai của quận.
Công việc thực của ông ngoại chính là chạy việc vặt, tôi thì không chỉ nhận và trả lời điện thoại cho ông mà còn rất sẵn lòng giúp ông một tay những lúc rảnh rỗi. Tôi thực sự thích thú làm việc đó vì trước đây tôi vốn không có nhiều cơ hội tiếp xúc với người ngoài. Khi tôi còn bé, chả có mấy ai đến thăm chúng tôi vì ba chỉ thích quan hệ với những người đồng hương của ông, nhưng chỉ là một mình ông chứ không phải cùng gia đình. Mẹ tôi thì chẳng chơi với hàng xóm. Bà không có lấy một người bạn. Bà cũng chả bao giờ tới gặp thầy cô của chúng tôi hay đi họp phụ huynh, thậm chí còn chả thèm tham gia hội phụ huynh nữa ấy chứ. Đấy, đó chính là gia đình của tôi.
Tôi không hề nghĩ rằng Yuriko sẽ quay trở lại Nhật Bản và làm hỏng mọi việc. Nhưng bốn tháng sau khi chuyển sang Thụy Sĩ, mẹ tôi đã tự sát. Tôi vẫn giữ một số thư từ bà viết cho tôi trước khi chết, nhưng tôi không hề viết trả lời bà lấy một chữ nào. Đúng thế. Không một chữ nào.
Tôi vẫn giữ vài lá thư của bà và rất sung sướng được cho bạn xem. Đọc chúng rồi, tôi không sao tưởng tượng nổi là bà lại có thể tự sát. Đó là bởi chưa bao giờ tôi nghĩ được rằng trong mẹ lại chất chứa nhiều đau khổ đến thế. Cho đến khi bà chọn cách tự tử, tôi còn chưa lúc nào nhận ra bà muốn từ biệt cõi đời này. Nhưng điều khiến tôi thực sự thấy kinh ngạc là mẹ có đủ dũng khí để tự kết thúc đời mình.
Con thế nào? Ba chúng ta đều khỏe. Con có hòa thuận với ông ngoại không? Ông là người quyết đoán hơn mẹ rất nhiều nên mẹ nghĩ là hai người sẽ hợp nhau. Nhưng mẹ vẫn muốn nhắc con rằng con không phải đưa cho ông ngoại thêm một xu nào ngoài số tiền bốn mươi nghìn yen mà ba mẹ hứa trả ông hằng tháng. Con phải tự biết cách tiết kiệm, đừng dựa vào ba mẹ. Nhưng mẹ sẽ gửi thêm một khoản tiền nhỏ vào tài khoản của con. Đấy là tiền túi của con nên đừng nói cho ông ngoại biết. Và nếu ông có tìm cách vay tiền con thì nhớ yêu cầu ông viết một cái giấy nợ. Đó là những gì ba con dặn, mẹ chỉ có nhiệm vụ truyền đạt lại thôi.
Tiện thể mẹ hỏi luôn, chuyện học hành của con thế nào? Mẹ không thể tin được rằng con lại đỗ được vào một trường tiếng tăm như thế. Gặp người Nhật nào ở đây là mẹ cũng khoe với họ về con. Mặc dù Yuriko chả nói năng gì nhưng mẹ chắc là nó đang ghen tị lắm đấy. Hãy cố gắng học hành con nhé, đó cũng là động lực lớn cho Yuriko theo đuổi. Con lúc nào cũng vượt trội nó về mặt đầu óc.
Mẹ nghĩ rằng lúc này ở Nhật, hoa anh đào chắc đã rụng gần hết. Mẹ nhớ hoa anh đào ở Yoshino. Chúng hẳn phải đẹp lắm khi nở hết cỡ. Mẹ không nhìn thấy một cây anh đào nào ở Bern. Mẹ chắc rằng chúng hẳn phải được trồng ở đâu đó nên nếu có cơ hội mẹ sẽ tới hỏi các thành viên Hội người Nhật ở đây. Dù ba thì chả thích mẹ tham gia hiệp hội này hay ngay cả Hội Phụ nữ Nhật Bản.
Ở đây trời vẫn lạnh. Không thể đi ra ngoài mà không có áo khoác thật ấm. Gió từ sông Aare lạnh buốt, cái lạnh ở đây như thấu vào xương khiến cho mẹ có cảm giác thật lẻ loi, đơn độc. Mẹ đang mặc chiếc áo khoác màu be mà chúng ta mua trong đợt giảm giá ở Trung tâm thương mại Odakyu. Mẹ chắc là con còn nhớ chiếc áo đó. Nó không đủ ấm cho khí hậu ở đây nhưng mọi người rất hay khen nó. Có người còn hỏi mẹ mua ở đâu. Ở đây mọi người thật biết cách ăn mặc. Họ ăn mặc rất chỉn chu, lúc nào trông cũng đàng hoàng.
Bern thì đẹp như một thành phố trong truyện cổ tích nhưng nó nhỏ hơn nhiều so với sự tưởng tượng của mẹ và ban đầu mẹ rất lấy làm ngạc nhiên về điều đó. Mẹ cũng không ngờ ở đây lại có nhiều người nước ngoài đến thế. Khi mới đến, mẹ đi dạo ở ngoài phố, thấy cái gì cũng sửng sốt, nhưng sau đó thì bắt đầu mệt mỏi. Phần lớn tiền chúng ta có được phải dùng hết để chi trả học phí và sinh hoạt cho con nên chúng ta gần như chả mua bán gì và sống thanh đạm hết mức có thể. Yuriko rất giận, nó nói tất cả chỉ vì con đòi ở lại Nhật. Nhưng con đừng lo về chuyện đó. Con sẽ phải dựa vào đầu óc của mình để tiến lên phía trước.
Nhà chúng ta nằm trong một khu đô thị mới. Nhà máy của Karl nằm ngay cạnh đó. Trước mặt chúng ta là một tòa nhà với những căn hộ nhỏ xíu nằm bên cạnh một khu đất trống. Ba con rất hài lòng vì chúng ta vẫn nằm trong địa phận thành phố nhưng mẹ thì thấy như mình đang ở ngoại ô. Nhưng hễ mẹ đề cập tới chuyện đó thì y như rằng ba sẽ nổi giận. Ở Bern, đường phố chỗ nào cũng gọn gàng, sạch sẽ, chỉ có toàn những người cao lớn nói chuyện bằng một thứ ngôn ngữ khó hiểu. Hơn nữa, ai cũng hung hăng. Đây đúng là một bài học cho mẹ.
Chuyện xảy ra mới hôm gì thôi. Mẹ vẫn luôn tuân thủ tín hiệu đèn giao thông mỗi khi băng qua đường nhưng vẫn phải chú ý tới xe cộ qua lại. Khi mẹ đang đi sang đường thì một chiếc ô tô suýt nữa thì tông phải mẹ, tà áo của mẹ mắc vào thanh giảm xóc và rách một tẹo. Người phụ nữ đang lái xe dừng lại và chui ra khỏi xe. Mẹ cứ tưởng bà ta tới xin lỗi nhưng không, bà ta bắt đầu quát mắng mẹ. Mẹ không hiểu bà ta nói gì nhưng bà ta cứ chỉ vào áo của mẹ và nói đi nói lại. Chắc bà ấy bảo đó là lỗi của mẹ khi đi qua đường mà lại không cài áo để nó bay phấp phới. Mẹ bảo với bà ấy là mẹ xin lỗi vì đã gây ra rắc rối rồi bỏ về nhà. Tối đó, khi mẹ kể cho ba con thì ông ấy lại nổi giận với mẹ. Ông ấy nói: “Bà không nên nhận là mình sai, không bao giờ. Cái giây phút mà bà nói ra điều đó là bà thua. Đáng lẽ bà phải đòi được ít nhất là tiền để sửa áo chứ!” Nghe những lời này mẹ chợt nhận ra rằng ba con không muốn nghe bất cứ lời chỉ trích nào liên quan tới việc chuyển đến đây sống, và đó cũng là một bài học nữa cho mẹ.
Ba tháng đã trôi qua kể từ khi chúng ta chuyển tới đây. Tất cả đồ đạc mà chúng ta gửi qua đường biển cuối cùng cũng đã tới nơi, khiến mẹ cảm thấy nhẹ nhõm được đôi chút. Nhưng những đồ đạc đó không được phù hợp lắm với căn hộ hiện đại mà chúng ta đang ở. Ba con rất bực bội vì chuyện ấy. “Đáng ra phải mua đồ đạc ở đây.” Ông ấy càu nhàu. “Đồ Nhật thật chả có tí giá trị nào.” Mẹ bảo ba con rằng ông ấy nên quên chuyện đó đi vì chúng ta lấy đâu ra tiền để sắm đồ mới nhưng nói vậy chỉ làm cho ông ấy bực mình hơn và bảo đáng lẽ phải tính kỹ chuyện này trước khi quyết định. Mẹ nghĩ ba con đang dần dần trở lại con người thực của ông ấy. Lúc nào cũng giận dữ. Nhất là bây giờ khi trở lại sống trên đất của ông ấy, ông ấy càng đòi hỏi mọi chuyện đúng logic, trật tự và dễ dàng nổi khùng mỗi khi mẹ có trót làm gì sai.
Dạo này ông ấy và Yuriko rất hay ra ngoài đi chơi mà không có mẹ. Hình như Yuriko thích thế. Con bé rất hợp với con trai lớn của chú Karl (cùng làm việc trong nhà máy). Hai đứa rất hay gặp nhau.
Mẹ rất sửng sốt khi phát hiện ra ở đây cái gì cũng đắt. Đắt hơn mẹ nghĩ nhiều. Nếu đi ăn ngoài quán thì mỗi người phải mất tới hơn 2.000 yen mà lại còn không ngon nữa chứ. Những món đơn giản như natto, món đậu tương lên men mà mẹ vẫn thích ấy giá những 650 yen. Con có tin được không? Ba con nói đó là do thuế nhập khẩu. Nhưng mà hình như mọi người ở đây đều có lương cao thì phải.
À còn chuyện này nữa, công việc mới của ba có vẻ không được như ông ấy mong muốn. Mẹ không biết là do ông ấy không hợp với các nhân viên khác hay là do công việc kinh doanh của chú Karl hiện giờ không được thuận lợi hay là vì một lý do nào đó. Nhưng hễ cứ về đến nhà là mặt mũi ông ấy sưng sỉa, hỏi về công việc thì không trả lời. Nếu con mà ở đây chắc hai ba con suốt ngày cãi nhau mất. Nên con ở lại Nhật lại tốt. Yuriko thì cứ giả vờ như không biết gì.
Hôm trước, chúng ta tới thăm chú Karl. Mẹ làm một khay chirashi zushi (cơm sushi) để mang theo. Vợ của Karl, Yvonne, là người Pháp. Họ có hai đứa con. Đứa con trai làm việc ở nhà máy, năm nay hai mươi tuổi, tên là Henri. Còn đứa con gái vẫn đang đi học. Họ có nói tên con bé nhưng mẹ quên mất rồi. Nó giống hệt Yvonne. Cô ấy có mái tóc màu vàng nhạt, mũi khoằm, béo và chả xinh tí nào. Cả Yvonne và Karl đều choáng khi nhìn thấy Yuriko. Karl nói gì đó như, “Có phải lấy vợ châu Á thì sẽ có con gái xinh thế?” khiến mặt Yvonne sưng lên.
Điều đó lại khiến mẹ nghĩ tới phản ứng kỳ quặc của mọi người mỗi lần ba mẹ đi ra ngoài cùng với Yuriko. Trong công viên chẳng hạn, ai cũng nhìn ba người chúng ta với vẻ hiếu kỳ. Cuối cùng cũng có ai đó mạnh dạn lên tiếng hỏi ba mẹ đã nhận nuôi Yuriko ở nước nào. Ở đây có người từ khắp nơi trên thế giới và việc nhận con nuôi là rất phổ biến. Khi mẹ nói với họ rằng Yuriko là con đẻ họ có vẻ không tin. Mẹ đoán họ không thể chấp nhận việc một người phương Đông trông xấu xí như mẹ lại có thể sinh ra một mỹ nhân như Yuriko và điều đó làm họ khó chịu. “Bà cứ nghĩ quá lên!” ba con sẽ nói thế. Nhưng mẹ không thể nào kiềm chế được. Vì mẹ tin là thế. Theo mẹ, họ chỉ không muốn thừa nhận thực tế là một người thuộc chủng da vàng lại có thể sinh ra một đứa bé hoàn mỹ tới vậy. Thế nên mẹ thấy rất mãn nguyện khi nói, không, Yuriko không phải là con nuôi, chính tôi đã sinh ra nó!
Con nhớ viết thư kể cho mẹ biết con sống ra sao nhé! Ba con hẳn cũng sẽ viết cho con vài dòng. Cho mẹ gửi lời hỏi thăm ông ngoại nhé!